BREAKING NEWS

TUẦN TRIỆT

LỤC BẠI TINH

TỨ LINH TINH

LƯỢT XEM

Friday, January 20, 2017

Cách dụng thần trong Bát Tự - Phần 1

Một người sinh ra có 4 yếu tố “thiên định” bất biến và duy nhất là Năm, Tháng, Ngày, Giờ. Bốn yếu tố cố định này không phải ai cũng có những yếu tố tương hợp tương sinh về âm dương ngũ hành để rồi có một cuộc đời tốt đẹp, hoặc chỉ tốt đẹp ở một giai đoạn nào đó còn sau đó thì không. 


Nhưng nhân loại từ xa xưa tới nay ai cũng kỳ vọng cuộc đời của bản thân mình “hạnh phúc, an khang, thịnh vượng” đến “đầu bạc răng long”! Hoặc nếu ai đó qua năm tháng ngày giờ sinh dự lượng thấy trong cuộc đời bản thân có nhiều điều xấu không như ý, ở họ lại nảy ra ý nguyện nếu cái xấu xảy ra có to tát thì cũng “hạ xuống vừa vừa”, rồi từ đó mà “xấu cũng không sao”! Điều ước vọng này Tử Bình hay tứ trụ nói có thể thực hiện được qua dụng thần. Vậy dụng thần là cơ chế điều chỉnh số phận của một người qua sự cân bằng âm dương. Ví dụ người có can ngày sinh là Canh Kim, sinh vào tháng mùa đông khuyết hỏa ấm thì số phận của họ như Kim hàn Thuỷ lạnh, báo trước một điều dễ bị tàn tật trong đời. 

Như vậy đối với người này cần tìm ra “dụng thần” để điều chỉnh sao cho cuộc sống tốt đẹp lên cho dù “Kim hàn Thuỷ lạnh”. Các nhà mệnh lý xưa cho rằng, trong trường hợp này người nói trên cần đến phương Nam vốn hành Hoả vượng thì sống bình thường, tránh được cái “Kim hàn Thuỷ lạnh” mà số phận cuộc đời vốn có. Còn có những cách giải khác cho người này sống tốt lên, như đồ dùng hàng ngày nên thiên theo hành hoả, như màu đỏ, dùng các con số chỉ tính Hoả như số 2, số 7 (như trong tủ có 2 hay 7 mắc áo...).

Như vậy, dụng thần là phương tiện để điều chỉnh theo hướng trung hoà giữa các yếu tố hung và cát thể hiện qua bát tự ngày tháng năm sinh của một người. Dụng thần có khả năng hạn chế cái mạnh, hỗ trợ cái yếu theo thuộc tính ngũ hành qua các yếu tố thời gian sinh của một người.

Theo các nhà mệnh lý, việc xác định được dụng thần trong tứ trụ thời gian sinh của một người là việc làm khó, đòi hỏi tính phân tích logic cao đối với người làm dự báo. Mặt khác, có người biết được “dụng thần” của mình, nhưng không có bản lĩnh hoặc cách để thực hiện trong cuộc sống. 

Ví như trong hệ dự báo Tử Vi có định đề: “Mệnh vô chính diệu phi bần tất yểu”, nghĩa là, người mệnh vô chính diệu phải nghèo, cuộc sống có khó khăn, nhưng sống lâu, nếu làm ăn phát đạt, thăng tiến trong cuộc đòi mà giàu có lên thì không thọ. Trên thực tế, cái giàu mà người ta với tới được, rất hấp dẫn và đưa con người (như có mệnh vô chính diệu) đến cái đỉnh cao của giàu sang và danh vọng. Họ còn thời gian đâu để luyện chí luyện ý chấp nhận cái nghèo để sống lâu.

Cách xác định dụng thần, được các nhà mệnh lý hướng dẫn là qua các cách cục như trình bày trên đây. Sau đây là những quan niệm khái quát về cách xác định dụng thần qua cách cục.

I. Cách chọn dụng thần qua cách cục phổ thông
1. Dụng thần trong cách Chính tài
Trong cách này có hai trường hợp xảy ra:
Thứ nhất: khi Nhật chủ vượng:
Nếu thời gian sinh của một người khi xác định cách cục là cách Chính tài ta thấy: Nhật chủ vượng, nhiều Tỷ kiên, Kiếp Tài; Quan Sát (Thương và Chính quan, Thất sát) có thể chế ngự Tỷ, Kiếp đoạt tài nên lấy Quan, Sát làm dụng thần. 

Trong tứ trụ kiểu này, Thực thương có thể lấn át khí của Tỷ, Kiếp: trong trường hợp này nếu không có Quan Sát có thể lấy Thực thần, Thương quan làm dụng thần. Hoặc nếu trong cách này, có nhiều ấn (Thiên ấn, Chính ấn), Tài sẽ khắc Ấn, nên nên lấy Tài làm dụng thần. Thực Thương có thể làm hao tổn khí của ấn nên có thể lấy Thực thần, Thương quan làm dụng thần. Nếu trong cách cục Thực, Thương nhiều thì Thực, Thương có thể dùng để sinh Tài, nên có thể lấy Tài làm dụng thần.
 
Thứ hai: khi Nhật chủ yếu:
Khi Tài nhiều thì lấy Tỷ kiếp làm dụng thần. Nếu trong cách Chính tài này có nhiều Thực, Thương, ấn có thể chế ngự Thực, Thương nên có thể lấy Ấn làm dụng thần.

Trong trường hợp thấy Tỷ, Kiếp có thể làm hao khí của Thực, Thương mà không có ấn thì có thể lấy Tỷ, Kiếp làm dụng thần. Hoặc nếu trong tứ trụ có nhiều Quan, Sát thì có thể lấy Tỷ, Kiếp làm dụng thần, ấn có thể làm hao tổn khí của Quan, Sát và sinh thần, nên khi không có Tỷ, Kiếp thì có thể lấy Ấn làm dụng thần.

2. Dụng thần trong cách Chính quan
Trong cách cục này có hai trường hợp xảy ra:
Thứ nhất: khi Nhật chủ vượng:
Khi Nhật chủ vượng: nếu có nhiều Tỷ, Kiếp, Quan, Sát chế ngự được Tỷ, Kiếp thì lấy Quan, Sát làm dụng thần. Nếu Thực thần, Thương quan có thể làm xì hơi của Tỷ, Kiếp mà lại không có Quan, Sát thì có thể lấy Thực thần, Thương quan làm dụng thần.

Nếu trong cách cục lại có Ấn nhiều, Tài khắc Ấn thì có thể lấy Tài tinh làm dụng thần. Khi Quan, Sát có thể làm xì hơi của Ấn thụ mà lại không có Tài thì lấy Quan, Sát làm dụng thần. Nếu trong cục Thương quan và Thực thần nhiều, Ấn chế ngự được Thương, Thực thì lấy Ân thụ làm dụng thần. Thương, Thực sinh tài nhưng làm tổn hao thân, mà không có Ấn thụ thì lấy Tài tinh làm dụng thần.

Thứ hai: khi Nhật chủ yếu nhược:
Trong cách này có Tài nhiều thì Tỷ, Kiếp có thể hỗ trợ nhiều cho Tài nên lấy Tỷ, Kiếp làm dụng thần.

Ấn thụ có thể làm hao tổn khí của Tài, khi mà không có Tỷ, Kiếp thì có thể lấy Ấn thụ làm dụng thần.

Nếu trong cách cục Quan, Sát nhiều, Thực Thương có thể chế ngự, nhưng theo các nhà mệnh lý thì theo cách Chính quan này không được lấy Thực, Thương làm dụng thần. Ấn thụ có thể làm xì hơi Quan, Sát, nên lấy Ấn thụ làm dụng thần.

Tỷ, Kiếp có thể giúp đỡ thần, trong trường hợp không có Ấn thụ, có thể lấy Tỷ, Kiếp làm dụng thần. Người mà trong cách cục Thương nhiều, ấn có thể chế ngự Thực, Thương thì nên lấy Ấn thụ làm dụng thần.

3. Dụng thần trong cách Chính ấn
Trong cách cục này có hai trường hợp xảy ra:
Thứ nhất: khi Nhật chủ vượng:
Tỷ, Kiếp nhiều, Quan, Sát có thể chế ngự Tỷ, Kiếp nên có thể lấy Quan, Sát làm dụng thần.
Thực, Thương có thể làm xì hơi của Tỷ, Kiếp mà khi không có Quan, Sát, có thể lấy Thực thần, Thương quan làm dụng thần.

Nếu trong cách cục tài tinh nhiều, quan sát có thê làm xì hơi Tài tinh nên có thể lấy Quan Sát làm dụng thần.

Nếu ấn thụ nhiều, Tài có thể khắc ấn thì nên lấy Tài tinh làm dụng thần.
Tài thần có thể làm hao tổn khi của ấn thụ, trong trường hợp không có Tài tinh thì có thể lấy Thực thần, Thương, Quan làm dụng thần.

Thứ hai: khi Nhật chủ nhược:
Khi mà Thực thần, Thương quan nhiều, ấn thụ có thể chế ngự Thực, Thương, nên có thể lấy Ấn thụ làm dụng thần.

Tỷ, Kiếp có thể làm xẹp khí của Thực, Thương, nên trong trường hợp không có Ấn thụ có thể lấy Tỷ, Kiếp làm dụng thần.

Nếu trong cách cục Quan Sát nhiều, ấn làm xẹp hơi của Quan Sát, nên có thể lấy ấn thụ làm dụng thần.

Tỷ Kiếp có thể giúp thân, có thể làm hao tổn khí của Quan Sát, khi mà không có ấn thụ thì có thể lấy Tỷ Kiếp làm dụng thần.

Trong cách cục nếu Tài nhiều, Tỷ, Kiếp có thể bảo vệ Tài, nên lấy Tỷ, Kiếp làm dụng thần.
Ấn thụ có thể làm tổn hao nguyên khí của Tài, khi mà lại không có Tỷ, Kiếp thì có thể lấy Ân thụ làm dụng thần.

4. Dụng thần trong cách Thương quan
Trong cách này có hai trường hợp xảy ra:
Thứ nhất:
Nhật chủ vượng. Khi Tỷ Kiếp nhiều, Quan Sát có thể chế ngự Tỷ, Kiếp thì lấy Quan Sát làm dụng thần. Nếu trong cách cục ấn nhiều, Tài khắc ấn thì lấy Tài làm dụng thần. Nếu có Quan Sát làm xẹp nguyên khí cửa ấn thụ, khi mà không có Tài thì có thể lấy Quan Sát làm dụng thần.

Thứ hai: khi Nhật chủ nhược:
Như khi Thực thần, Thương quan nhiều, ấn thụ vừa sinh thân vừa chế ngự được Thực Thương, nên lấy ấn thụ làm dụng thần. Nếu Tỷ, Kiếp làm xẹp hơi của Thực, Thương, nên trong trường hợp này không có ấn thì có thể lấy Tỷ, Kiếp giúp thân làm dụng thần. Nếu trong cách cục Tài nhiều, Tỷ Kiếp có thể hỗ Tài, nên lấy Tỷ Kiếp làm dụng thần.

Ấn thụ có thể làm hao khí của Tài, khi không có Tỷ Kiếp, có thể lấy ấn thụ làm dụng thần.

Nếu trong cách cục Quan Sát nhiều, ấn thụ có thể làm xì hơi Quan, Sát, nên có thể lấy ấn làm dụng thần.

Chú ý: dụng thần của các cách: Thiên tài, Thiên quan, Thực thần đều lấy theo nguyên lý trình bày như trên.

5. Dụng thần trong cách Thất sát
Trong cách này có hai trường hợp xảy ra:
Thứ nhất:Nhật chủ vượng. Khi trong tứ trụ Tỷ, Kiếp nhiều thì chọn Quan, Sát làm dụng thần. Nếu không có Quan Sát thì chọn Tài.

Cũng khi Nhật chủ vượng, Ấn nhiều thì chọn Tài làm dụng thần. Nếu không có Tài thì chọn Quan, Sát hoặc Thực, Thương làm dụng thần.

Khi Quan Sát nhiều thì chọn Thực, Thương làm dụng thần.

Thứ hai: khi Nhật chủ nhược:
Tài nhiều thì chọn Tỷ, Kiếp làm dụng thần. Nếu không có Tỷ, Kiếp thì chọn ấn làm dụng thần.

Quan, Sát nhiều thì chọn ấn làm dụng thần. Không có ấn thì chọn Tỷ, Kiếp.

Thực, Thương nhiều thì chọn ấn làm dụng thần. Khi không có ấn thì cũng chọn Tỷ, Kiếp.

6. Dụng thần trong cách Thực thần
Trong cách này có hai trường hợp xảy ra
Thứ nhất: khi Nhật chủ vượng:
Khi Tỷ Kiếp nhiều thì chọn Quan Sát làm dụng thần. Nếu khi không có Quan, Sát thì chọn Thực, Thương làm dụng thần.

Khi mà ấn nhiều thì chọn Tài làm dụng thần. Nếu không có Tài thì chọn Quan, Sát hoặc Thực, Thương làm dụng thần.

Tài nhiều thì chọn Quan, Sát làm dụng thần, khi không có Quan, Sát thì chọn Thực, Thương.

Tài nhiều thì chọn ấn làm dụng thần. Khi không có Tài thì chọn Tỷ, Kiếp.

Thứ hai: Nhật chủ nhược:
Khi mà Tài tinh nhiều thì chọn ấn làm dụng thần. Không có ấn tinh thì chọn Tỷ, Kiếp.

Thực Thương nhiều thì chọn ấn làm dụng thần. Không có ấn thì chọn Tỷ, Kiếp.

7. Dụng thần trong cách Kiến lộc
Trong cách này có hai trường hợp xảy ra:
Thứ nhất: Nhật chủ vượng:
Nếu Nhật chủ vượng thì Tài, Quan có lực làm dụng thần. Nếu không có Tài thì chọn Thực, Thương có lực làm dụng thần.
Nếu Nhật chủ nhược thì chọn ấn hoặc Tỷ, Kiếp làm dụng thần. 

II. Chọn dụng thần cho số cách cục đặc biệt
2.1. Cách Khúc trực lấy Mộc làm dụng thần.
2.2. Cách Viêm thượng lấy Hoả làm dụng thần.
2.3. Cách Gia tường lấy Thổ làm dụng thần.
2.4. Cách tòng sát lấy Kim làm dụng thần.
2.5. Cách Nhuận hạ lấy Thuỷ làm dụng thần.
2.6. Cách Tòng tài lấy Thực, Thương sinh tài làm dụng thần.
2.7. Cách tòng nhi lấy Thực, Thương làm dụng thần.
2.8. Cách hoá Mộc: lấy Mộc làm dụng thần.
2.9. Cách hoá Thổ: lấy Thổ làm dụng thần.
3.10 Cách hoá Kim: lấy Kim làm dụng thần.
3.11. Cách hoá Thuỷ: lấy Thuỷ làm dụng thần.
3.12. Cách hoá Hoả: lấy Hoả làm dụng thần.

III. Một cách chọn dụng thần khác
1. Hỉ và kỵ của dụng thần
Theo các nhà mệnh lý, đối với một người, dụng thần được sinh trợ và không bị tổn thương thì báo một tương lai tốt đẹp.

Trong tứ trụ, khi mà dụng thần bị hình xung khắc hại, thì phải áp chế làm mất tính “hung” của chúng thì cần có những yếu tố “cứu ứng” dụng thần. Nhưng vấn đề đặt ra là phải tìm đúng dụng thần, qua đó mà tìm hỷ thần (chính là cái cứu ứng dụng thần). Như vậy hỷ thần là sao được chọn để cứu ứng dụng thần. 

Nhưng hỷ thần phải có lực thì mối cứu ứng được. Các nhà mệnh lý còn cho rằng, khi mệnh cục không xác định được dụng thần thì lấy hỷ thần làm vật thay chức năng của dụng thần. Ngoài ra còn dùng đến sự cứu ứng của tuế vận (năm vận) để bổ xung.

Kỵ thần: hung thần mà cũng là kỵ thần khi nó hình xung khắc hại hoặc hợp mất dụng thần, hoặc làm tổn hại hỉ thần.

- Chính quan hoặc thiên quan khi là hỷ của dụng thần: báo được quý nhân cất nhắc, thăng quan tiến chức, thi đỗ đạt, bầu cử dễ trúng cử, uy quyền ngày càng tăng.
- Chính quan hoặc thiên quan là kỵ thần: sẽ hình khắc quan phù, dễ bị tù ngục, danh dự tổn thất, bị không chế, liên lụy.
- Chính hoặc Thiên ấn khi là hỷ của dụng thần: công thành danh toại, lên chức được quyền, học thuật tiến bộ, thi cử dễ đạt.
- Chính ấn hoặc Thiên ấn là kỵ thần: sống mệt mỏi, quyền chức dễ mất, danh dự tổn thất, thi khó đỗ.
- Tỷ kiên hoặc Kiếp tài khi là hỷ của dụng thần: sẽ được lợi, được của, được người dưới giúp đỡ, tình duyên tốt đẹp, bệnh mau khỏi.
- Là kỵ thần (Tỷ Kiếp) thê tài có sự tổn thất, tình phụ tử không đẹp, anh em bất hoà, bạn bè gây cản trở.
- Thực thần hoặc Thương quan khi là hỷ của dụng thần: gặp nhiều điều mừng, thêm con cháu, thêm tuổi thọ, con cháu vinh hiển, tài hoa phát triển, chức lộc đều đạt.
- Nếu Thực Thương là kỵ thần: con cháu gây luỵ cho cha mẹ, bệnh nhiều, chức dễ bị giáng, học hành dở dang, mất việc làm.
- Chính tài hoặc Thiên tài là hỷ của dụng thần: hôn nhân thuận lợi, tài lợi đều có, được hưởng âm đức của cha mẹ ông bà, sự nghiệp vẻ vang, được vợ giúp.
- Nếu hai sao này là kỵ thần thì: tài nhiều nhưng thân nhược, không được sự giúp đỡ của cha mẹ,vợ con, làm ăn không thông thát, mất nhiều hơn được.

2. Phương pháp chọn dụng thần cho tứ trụ
Các nhà mệnh lý xưa cho rằng, cách chọn dụng thần không ngoài ba nguyên tắc: sinh phù  áp chế; thông quan (làm cho thông suốt) và điều hầu. Sau đây là nội dung chọn dụng thần theo ba nguyên tắc trên.

a. Sinh phù ấp chế
Nhật can là một trong 10 thần, do vậy trụ ngày sinh lấy sự trung hoà, cân bằng làm chính, nếu thái quá hay bất cập đều là mệnh cục không tốt.
Phù (trợ) là cái sinh ra Nhật chủ (biểu thị là tôi, là người được dự báo), đó là ấn tinh (Chính ấn, Thiên ấn) và Tỷ kiếp (của Nhật chủ) phù trợ cho Nhật chủ. Những người có mệnh cục như vậy là hướng đến sự bình hoà.

Khi nói đến áp chế là nói đến Quan tinh (Chính quan, Thương quan) khắc Nhật chủ, áp chế Nhật chủ, Thực thần làm xì hơi Nhật chủ, Tài tinh (Kiếp tài,Thiên tài, Chính tài) làm hao tổn Nhật chủ.

Trong trường hợp Nhật chủ (trụ ngày sinh) suy nhược thì mệnh cục cần được phù trợ. Trong trường hợp này các nhà mệnh lý xưa căn cứ vào số lượng các kỵ thần có mà chọn dụng thần, như:
- Nhật can (của Nhật chủ) nhược, tứ trụ có nhiều Quan sát thì:lất ấn tinh (Thiên ấn, Chính ân) làm dụng thần để làm xì hơi Quan sát, sinh thần cho Nhật chủ. Nếu không có ấn tinh thì lấy Tỷ Kiếp làm dụng thần để làm hao tổn Tài để sinh cho Nhật chủ.
- Nhật can nhược, nhiều Tài tinh: lấy Tỷ Kiếp làm dụng thẩn để áp chế Tài tinh, trợ giúp Nhật chủ. Nếu không có Tỷ Kiếp thì lấy ấn tinh làm dụng thần, làm hao tổn tài để sinh thân cho Nhật chủ.
- Nhật can nhược, tứ trụ nhiều Thực Thương: lấy ấn tinh làm dụng thần để áp chế Thực Thương, để sinh thân cho Nhật chủ. Nếu không có ấn tinh thì lấy Tỷ Kiếp làm dụng thần để trợ thân bổ cứu khi bị xì hơi.
Khi Nhật chủ cường vượng, khi mệnh cục cần áp chế làm hao tổn, làm xì hơi thì cũng căn cứ số kỵ thần bao nhiêu để chọn dụng thần.
- Nhật chủ vượng, nhiều ấn tinh: lấy Tài tinh làm dụng thần để áp chế ấn tinh, làm hao tổn thân. Nếu không có tài tinh thì lấy Quan Sát làm dụng thần.
- Nhật chủ vượng, nhiều Tỷ Kiếp: lấy Quan Sát làm dụng thần áp chế Tỷ Kiếp, áp chế thân vượng. Nếu không có Quan Sát thì lấy Thực Thương làm dụng thần để xì hơi Tỷ Kiếp, xì hơi thân vượng. Nếu không có cả hai thì lấy Tài tinh làm dụng thần để làm hao tổn Tỷ Kiếp, hao tổn thân vượng.

b. Thông quan (làm cho thông suốt)
Trong mệnh cục khi có hai loại ngũ hành đối lập nhau, thế lực ngang nhau thì cả hai sẽ bị tổn thất, như vậy mệnh cục này có bệnh. Muốn chữa bệnh cần chọn một ngũ hành khác để cho hai ngũ hành đối địch kia sinh hoá bình thường cho nhau thì khí của mệnh cục được lưu thông, làm như vậy gọi là thông quan. Cách làm như sau:
- Nếu Hoả Kim tương tranh thì lấy Thổ làm dụng thần để thông quan.
- Nếu Mộc Thổ tương tranh thì lấy Hoả làm dụng thần để thông quan.
- Nếu Thuỷ Hoả tương tranh, lấy Mộc làm dụng thần để thông quan.
- Nếu Kim Mộc tương tranh, lấy Thuỷ làm dụng thần để thông quan.
- Nếu Thuỷ Thổ tương tranh, lấy Kim làm dụng thần để thông quan.

c. Điều hầu
Các nhà mệnh lý xưa cho rằng, thiên đạo (đạo trời) có âm dương, nóng lạnh, đạo đất có khô có ẩm, con người là một phần của trời đất nên cũng chịu ảnh hưởng của đạo trời đạo đất. 

Cái xác định nên một con người là thời gian sinh trong trời đất này, do vậy, các nhà mệnh lý xưa lấy ngày sinh làm chủ thể của họ, tháng sinh làm “bản đồ án thiết kế cuộc đời” của con người, do vậy nhà mệnh lý xưa dựa vào ngũ hành của Nhật can (can ngày sinh) và chi tháng sinh để bàn về sự thăng trầm (ấm lạnh), đến sự “khô ẩm” mệnh cục của mỗi người. Nếu “trầm quá” (lạnh quá) thì dùng “thuốc” nhiệt để làm ấm lên nếu nóng quá thì dùng thuốc lạnh (hàn) để hạ bớt nhiệt đi khiến cho mệnh có trạng thái quân bình thích hợp, điều này được nhà mệnh lý xưa gọi là điều hầu (hay điều chỉnh).

Như người sinh vào các tháng mùa hạ, dù cho ngũ hành can ngày là gì, vì ấm quá nên táo (khô) nhiều, tứ trụ không tránh khỏi việc phải dùng hàn lạnh thấp là hành thuỷ để điều chỉnh.

Người sinh vào mùa đông, dù can ngày là hành gì thì vẫn là hàn thấp, nên tứ trụ phải dùng ôn táo nhiệt để điều hầu.

Người sinh vào mùa xuân hoặc mùa thu thì hàn ôn, táo thấp vừa phải, nên nhất định phải điều hầu bằng thuỷ, mà chỉ cần xét sự sinh khắc chế hoá giữa các hành trong tứ trụ là được. 

Ví dụ can ngày là Canh kim, sinh tháng đông, không có hoả ấm thì sẽ rơi vào kim hàn, thuỷ lạnh. Theo học thuyết ngũ hành, Canh chủ về gân cốt, gân cốt ở tử địa, khi huyết không thông mà sinh bệnh tật. Nếu trong tứ trụ không có hoả thì thiếu yếu tố để điều chỉnh, do vậy phải có cái để điều chỉnh thì mọi cái sẽ hanh thông. 

Nhưng bằng cách nào? Theo các nhà mệnh lý, trong trường hợp này người đó cần đến ở đất phương Nam là đất hoả, không những lợi cho cơ thể mà vận mệnh cũng tốt hơn. Đây cũng là cách giải nạn, giải hạn.

Theo các nhà mệnh lý, sự hưng vượng của từng ngũ hành có thay đổi theo thời gian, chỉ khi Thổ ở trung tâm quán xuyến cả 4 phương 8 hướng, không cần cụ thể ở phương nào, nếu vào các thời gian như trước lập Xuân, lập Hạ, lập Đông 18 ngày (thời gian trong tứ quý) thì trong thời gian này các hành đều vượng.

.... Xem phần 2....

Post a Comment

 
Copyright © 2017 Tử Vi Lý Số
DMCA.com Protection Status
Shared by Bí Kiếp. Powered by Khoa Học Tử Vi