BREAKING NEWS

TUẦN TRIỆT

LỤC BẠI TINH

TỨ LINH TINH

LƯỢT XEM

Thursday, February 23, 2017

Huyền thoại và sự thật về thiên văn học Trung Hoa - Phần 1

Thiên văn học Trung Hoa có một bề dày lịch sử nhất định, đó là điều không ai chối bỏ. nhưng bề dày như thế nào và thành tựu bao nhiêu là vấn đề khác. Riêng một điều: có quá nhiều tài liệu nói đến một nền thiên văn Trung Hoa rất cổ xưa, rất phát triển; thậm chí làm người đọc tưởng chừng không dân tộc nào bằng. 

Lược qua một số sách báo, trang mạng sẽ thấy điều này và chúng ta có một thói quen sao chép lại những điều người Trung Hoa nói mà không truy vấn xem mức độ sự thật tới đâu. Chúng ta hầu như quên rằng người Trung Hoa có một thói quen rất hay đề cao dân tộc họ, kể cả tạo dựng những điều hoàn toàn huyền thoại, không đúng với sự thật. 

Lấy một ví dụ: người Trung Hoa cho rằng họ đã biết đúc đồng từ thời xa xưa: Hiên Viên Hoàng Đế từng đúc Cửu Đỉnh và truyền đến đời nhà Chu. Đến khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, mang Cửu Đỉnh đó về Hàm Dương bằng thuyền, đến sông Hoàng Hà thuyền bị đắm, nên thất lạc. Vâng, nếu đó là sự thật thì ngày nay chúng ta khai quật không phải là khó khăn vì đoạn sông sâu nhất cũng không quá 30 m nước. Phương tiện khoa học kỹ thuật ngày nay cho phép dò tìm (bằng SONAR) và khai quật ở nhiều điều kiện tự nhiên khắc nghiệt hơn rất nhiều lần. Thế nhưng huyền thoại vẫn là huyền thoại và chẳng thể nào chứng minh.

Thiên văn học cũng vậy, dân tộc Trung Hoa từ đời nhà Hậu Hán đã viết cho dân tộc họ một “huyền thoại” rất siêu phàm. Điểm qua có thể thấy:

– Người Trung Hoa đã quan sát vết đen Mặt trời (Sunspots) vào năm 800 trước Công nguyên và cuốn sách Ngọc Hải nào đó (mà người ta nói đã thất truyền) đã ghi chép những hiện tượng vết đen mặt trời vào năm 165 trước Công Nguyên. Lại còn viện dẫn bộ Hán Thư hiện tượng này vào năm 28 trước Công nguyên (trong bản gốc chỉ ghi: Mặt trời tự nhiên có chỗ tối đi, được diễn đạt ành vết đen mặt trời mà không hề đặt nghi vấn sách xưa có nhầm lẫn hay ngụy tác vì một mục đích quyền bính hay không. Trong lịch sử Trung Hoa có những ghi chép nói quan khâm thiên nhiều lần ngụy tạo hiện tượng thiên văn vì mục đích chính trị). 

Chắc chắn rằng người viết “vết đen” (còn gọi là đốm mặt trời) này không là người hiểu biết thiên văn, nhất là hiểu biết Mặt trời: không ai có thể nghiên cứu vết đen đó bằng cách nhìn trực tiếp lên Mặt trời cả. Ngày nay để nghiên cứu Mặt trời người ta gắn thêm vào kính viễn vọng bộ lọc Mặt trời (Sun filter) để làm giảm độ sáng của Mặt trời xuống hơn 1 triệu lần, hay cao hơn dùng loại kính viễn vọng chuyên để quan sát Mặt trời (solar telescope) có thêm tác dụng tránh méo hình ảnh do các hiệu ứng nhiệt gây ra. 

Vậy họ dùng thiết bị gì thì chẳng sách nào bàn đến, còn hiện tượng Nhật thực ngắn ngủi khó cho phép điều kiện thời xưa nghiên cứu vết đen này.

– Lại nói Thạch Thân đời Chiến Quốc soạn cuốn Thạch Thân Thiên Văn (石申天文) có 122 chòm sao với 809 ngôi sao, được thuật lại trong Hậu Hán Thư. Nhưng không ai có thể nói ra tên của 122 chòm sao đó và người Trung Hoa dùng phương pháp gì để định vị sao. Không định vị được sao thì khó thống kê được những điểm sáng chi chit trên bầu trời thì làm sao xác định ra danh tập (catalog) 122 chòm sao với 809 ngôi sao.

Một thực tế trước khi thiên văn học hiện đại được các giáo sĩ dòng Tên lan truyền vào, kinh sách Trung Hoa mô tả các hiện tượng thiên văn theo phương hướng hay theo một ngôi sao chuẩn (đúng ra là mảng sao gồm nhiều ngôi sao) nào đó. Đại loại có thể thấy họ viết “sao khách xuất hiện ở hướng Đông Nam, gần sao Khuê (thực ra là một cung sao rất rộng)”.

Tác giả dẫn chứng điều này quên một điểm: khi thiên văn học Á Rập và phương Tây truyền vào người Trung Hoa mới nhận biết những “tinh” (ngôi sao) và “” (ngôi sao sáng) mà họ thường gọi thực tế là những mảng sao gồm những ngôi sao cách nhau rất xa, có thể vài năm, vài chục năm, hay vài trăm năm ánh sáng.

Vì thế, về sau họ phải đánh số thêm để phân biệt theo kiến thức thiên văn hiện đại; chẳng hạn “ngôi sao” Thiên Trù (天廚) trong Thiên Cang Địa Sát (xuất hiện sau đời nhà Tống) có 6 đến sao khác nhau thuộc chòm sao hiện đại là Thiên Long (Draco); họ đánh số:
  • 1) Thiên Trù đệ nhất tức sao Aldib (d Dra), 
  • 2) Thiên Trù đệ nhị tức sao Alsafi (s Dra), 
  • 3) Thiên Trù đệ tam tức sao Tyl (e Dra), 
  • 4) Thiên Trù đệ tứ tức sao ρ Dra, 
  • 5) Thiên Trù đệ ngũ tức sao e Dra, 
  • 6) Thiên Trù đệ lục tức sao π Dra. 

Ngoài một ít sao đúng nghĩa, còn trên 300 cái gọi là “sao” của người Trung Hoa đều là mảng sao (không phải sao đôi hay sao kép theo thiên văn học hiện đại) mà hiện nay họ đã đánh số kiểu tương tự. Như vậy việc xác định sao của người Trung Hoa cổ đại có nhiều điểm còn hồ nghi và man mác thấy tinh huyền thoại. Người Trung Hoa chưa thể xác định cụ thể sao vì chưa có phương tiện quan sát sao như viễn vọng kính (đến đời Đường Tống còn dùng ống vọng đồng để quan sát) vả mãi đến thời Đường (nền thiên văn Ấn Độ đã theo con đường Phật giáo thâm nhập sâu) mới thấy chia chu vi bầu trời (gọi là chu thiên) làm 3650, điều này đến đời Tống được nhắc lại trong cuốn Thiên Văn Đồ của Vương Trí Viễn. Rất nhiều tài liệu Trung Hoa truyền tụng: thầy truyền dạy thiên văn cho môn đồ bằng cách cùng nhau ngước lên bầu trời và thầy dùng ngón tay chỉ cho học trò sao này sao kia. Và chẳng có tài liệu nào ghi chép 122 chòm sao với 809 ngôi sao của Thạch Thân có tên tuổi ra sao. Chúng ta chỉ nghe nói, biết vậy và một số người tin đấy là sự thật.

– Có tác giả Phương Tây còn mơ hồ hơn. Chẳng hạn, Gustave Schlegel (cũng vì sử dụng những trước tác Đường Tống nhiều yếu tố phóng đại) cho rằng thiên văn Trung Hoa có trước Công nguyên 17.000 năm (trong khi dân tộc này tự xưng có lịch sử 6.000 năm lập quốc). Bác Sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ đã phản bác nhẹ nhàng trong cuốn Thiên Văn Cổ Trung Hoa: Nói vậy e quá đáng”.

Và nhiều điều thiếu luận cứ khoa học khác nữa. Bạn có thể gặp nhiều điều mơ hồ tương tự trên Wikipedia, nhưng nên lưu ý bên cạnh luôn có dòng “citation needed – cần dẫn nguồn trích” và nếu có nguồn trích dẫn cũng chỉ là sách từ đời Hán trở về sau, mà sự thêm thắt của hậu thế vào những tác phẩm này không sao tránh khỏi (tài liệu Việt cũng bị nhiễm bệnh này: cuốn Địa Dư Chí của Nguyễn Trãi bị đời sau sửa chửa và ghi thêm nhiều điều, nay đã chứng minh được sự thác danh này).

Có thể tìm thấy ở nguốn tư liệu này những nhân vật như: Thương Vu với cuốn Thương Vu Hàm Tinh Đồ (商巫咸星圖) trước Công nguyên 1.000 năm nhưng không dẫn ra nguồn tài liệu; Cam Đức (甘德) viết cuốn Thiên Văn Tinh Chiêm (天文星占) thời Chiến Quốc (trước cả Thạch Thân), được thuật lại trong cuốn Sử Ký (quyển 27) và Hán Thư (quyển 26); Cảnh Thọ Xương (耿壽昌) với cuốn Hỗn Tượng (渾象) vào khoảng năm 52 trước Công nguyên (không có nguồn trích dẫn), …

Tài liệu cổ nhất của Trung Hoa có thể trưng ra là bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên (145-86 trước Công Nguyên) chỉ nói đến các hiện tượng thấy trên bầu trời mà bất kỳ dân tộc cổ đại nào cũng ít nhiều quan tâm (chỉ khác biệt ghi chép lại hay không ghi chép lại): Nhật thực, sao khách, sao chổi, … (cuốn Thiên Văn Tinh Chiêm có lẽ cũng chỉ nói những hiện tượng bói toán từ bầu trời) và các hành tinh trong Thái Dương Hệ mà họ gọi là sao. Sử Ký cũng nói đến các vùng trên bầu trời nhưng không xác định đó là mảng sao hay chòm sao.

Ví dụ trong Sử Ký viết: “Huỳnh Hoặc vào không phận sao Bào Qua” (Huỳnh Hoặc là tên gọi khác của Hỏa Tinh; Bào Qua là vùng chòm sao Hải Đồn – Delphinus), “Thái Bạch bỗng xâm phạm phận dã Lang Tinh” (Thái Bạch tức Kim Tinh, phận dã Lang Tinh tức vào vùng chòm Đại Khuyển – Canis Major), “Thái Bạch hiện ra ban ngày”, …  Thậm chí còn nhầm lẫn Sâm và Thương (vốn chỉ là Kim Tinh) là hai sao khác biệt.

Mãi đến thế kỷ thứ 5 mới có cuốn Hậu Hán Thư (đời Đường) nói về các danh tập các vì sao thời Tiên Tần. Tư Mã Thiên là người viết sử trung thực, học rộng, có tra cứu và viện dẫn rất chi tiết, … (ai đọc qua bộ Sử Ký đều thấy điều này) lẽ nào bỏ sót những điều quan trọng như thế (danh tập sao) và phải đợi người đời sau mới nói. Chúng ta chớ quên Sử Ký có cả một thiên riêng mang tên Thiên Quan, chứng tỏ Tư Mã Thiên rất quan tâm đến bầu trời và cũng chứng tỏ thiên văn học trước đời Hán rất sơ khai. Những hệ thống hoàn chỉnh Tam Viên và Nhị Thập Bát Tú chưa có nên không hề thấy trong Sử Ký của Tư Mã Thiên. Có lẽ trước đời Hán người Trung Hoa chỉ mới quan sát nhiều sao Bắc Thần, sao Bắc Đẩu, một vài sao rất sáng như sao Thiên Lang (Sirius) và các hành tinh trong Thái Dương Hệ; dĩ nhiên cũng có phân chia sơ lược bầu trời thành nhiều vùng để dễ mô tả các hiện tượng chiêm tinh.

Dù chưa thể vội khẳng định đúng sai những tài liệu này, nhưng trên cơ sở luận cứ trình bày ở những bài sau cho phép chúng ta có quyền đặt nghi vấn. Tuy nhiên, người Trung Hoa vẫn cố trưng ra nhiều chứng cứ, nhưng niên đại thật sự vẫn còn là dấu hỏi tồn nghi. Dưới đây là ảnh chụp khối đá có chạm hình Thất Tinh Bắc Đẩu, do Wu Jiacai phát hiện ngày 15 tháng 8 năm 2006 trên núi Baimiaozi, gần thành phố Chifeng, Tây-Bắc khu tự trị Nội Mông. Khối đá được mô tả dài 310 cm, trên đó có khắc 19 ngôi sao và mặt phía bắc khối đá có hình sao Bắc Đẩu. Ông Wu còn cho biết: lỗ khắc lớn nhất có đường kính 6 cm và sâu 5 cm có niên đại thời đồ đá mới (tân thạch khí).
 

Vâng. Rất nhiều khả năng người Trung Hoa đã quan tâm đến sao Bắc Đẩu từ thời thượng cổ, lúc họ sống bằng chăn thả và du mục, vì ngôi sao này dùng để định phương hướng.

Nhưng “di chỉ” này có vấn đề: việc định niên đại đá không dễ dàng (dùng phương pháp cổ từ trường), nhưng niên đại đá và niên đại hình ảnh tạc vào nó là hai chuyện khác nhau rất xa (ở đây loại trừ trường hợp trùng hợp ngẫu nhiên một hình thể na ná được suy diễn ra). Một khối đá có thể 10.000 năm tuổi nhưng hình chạm khắc có thể mới vài năm. Do vậy, những tiêu chí về độ mòn vẹt, ten đá, phong cách tạo hình, … luôn là yếu tố quan trọng để định tuổi di vật khảo cổ thạch khí.

Ở hình trên, chúng ta thấy hình ảnh khắc trên mặt phiến đá (chứ không phải vách phiến đá), tất nhiên chịu tác động với các điều kiện xâm thực tự nhiên rất cao (so với bên vách). Thế nhưng vét khoét 7 lỗ của “Thất Tinh Bắc Đẩu” (về sao Bắc Đẩu sẽ bàn rộng thêm ở bài 3) khá sâu và nhìn thấy rõ. Nếu nói là thời đồ đá mới của Trung Hoa (thời đại đồ đá mới từng dân tộc có thời gian niên đại khác nhau do trình độ văn minh sớm muộn. Hiện nay vẫn có những bộ lạc sống trong rừng rậm đang ở thời kỳ đồ đá) phải có trên 5.000 năm tuổi.

Với thời gian đó, không cần tác động của con người, chỉ sự phong hóa của nhiệt độ và gió thôi (di vật tìm thấy ở vùng sa mạc: gió và sự thay đổi nhiệt độ giữa ngày và đêm rất khắc nghiệt) cũng không thể còn “hình dáng” đẹp như thế (ảnh chụp cho thấy hiện vật ở ngoài trời do nét bóng đổ là tự nhiên chứ không do đèn chiếu).

Cũng có tác giả trưng bằng chứng bằng hoa văn Mặt trời trên đồ gốm như hình dưới đây:
Và cho kết luận sau khi nghiên cứu: có niên đại trước Công nguyên 5.000-6.000 năm. Trong khoa đồ gốm, kiểu dáng, nước men, họa tiết, … là những tiêu chí quan trọng để thẩm định niên đại; với món đồ này (dù chưa tận tay cảm nhận chất liệu xương gốm và kỹ thuật chế tác) các nhà nghiên cứu đồ gốm cũng khó chấp nhận niên đại như tác giả đã nêu.

Một điều đơn giản món đồ gốm này chắc chắn làm từ bàn xoay, lịch sử bàn xoay của Trung Hoa khó có thể là 5.000-6.000 năm trước Công nguyên. Còn họa tiết cũng khó chứng minh đó là Mặt trời (cũng có thể nhìn ra đó là hoa cúc), nhưng nếu là họa tiết tinh tú cũng khó có thể khẳng định lúc đó có một nền thiên văn đúng nghĩa.

Chúng ta cũng nên nhớ trên đại đa số trống đồng đều có họa tiết Mặt trời ở giữa, như thế có thể nói Việt Nam có nền thiên văn từ đời Hùng Vương hay sao? Cho nên, một hiện tượng trên bầu trời thể hiện trên tác phẩm nghệ thuật có thể chỉ mới là cảm hứng nghệ thuật chứ chưa thể nói là cơ sở chứng minh một nền thiên văn.

Hay mẫu khắc trên mai rùa:


Các nhà nghiên cứu Trung Hoa cho mai rùa này khác bản đồ sao “Điểu Tinh”. Không rõ họ đọc thế nào mà giải mã như thế, nhưng chắc chắn là một mô tả lễ cúng tế.

Hơn nữa, thiên văn học Trung Hoa lưu truyền đến ngày nay chẳng có mảng sao nào tên “Điểu Tinh”; chỉ có mảng sao Điểu Uế (鳥喙) có nghĩa “mỏ chim”, gồm 7 ngôi sao đánh số từ đệ nhất đến đệ thất (α Tuc, δ Tuc, HD 224361 Tuc, β Tuc, ρ Tuc, ζ Tuc, ε Tuc, và γ Tuc), là những ngôi sao thuộc chòm sao hiện đại Đổ Quyên (Tucana) , Hỏa Điểu (火鳥) thuộc chòm Khổng Tước (Pavo) gồm 9 ngôi sao đánh số từ đệ nhất đến đệ cửu (ι Phe, σ Phe, ε Phe, κ Phe, α Phe, μ Phe, λ1 Phe, β Phe, và γ Phe), và Dị tước[1] (異雀) có nghĩa “con chim yến lạ” gồm 8 ngôi sao đánh số từ đệ nhất đến đệ bát (ζ Aps, ι Aps, β Aps, γ Aps, δ1 Aps, η Aps, α Aps, và ε Aps) cũng vậy thuộc chòm Thiên yến (Apus) mà người Trung Hoa bổ sung thêm sau khi tiếp xúc với Phương Tây (các mảng sao này không xếp vào Thiên Cang Địa Sát hay Nhị Thập Bát Tú).

Các mảng sao này ở Nam Thiên cầu (khó nhìn thấy từ đất Trung Hoa, nhất là Octans rất gần Thiên cực Nam), được phát hiện vào khoảng thế kỷ 16. Tên Tucana (người Trung Hoa dịch thành ĐỗQuyên) do ông Petrus Plancius ở đài Thiên văn Pieter Dirkszoon Keyser và ông Frederick đặt vào khoảng những năm 1595 – 1597, xuất hiện trên sách báo lần đầu tiên trong cuốn Johann Bayer’s Uranometria vào năm 1603.

Còn chòm Thiên Yến được Dirkszoon Keyser và Frederick de Houtman đặt khoảng thập niên cuối thế kỷ 15, lần đầu tiên được Johann Bayer đưa lên sách vào năm 1603 (cuốn Uranometria). Nếu cho rằng Điểu Tinh là tên cổ của một chòm sao nào đó, thì đó là điều có thể mà thôi, tức vẫn còn tồn nghi tính hiện thực.

Ở đây xin nói thêm, du nhập và phát triển văn hóa là điều tốt, thiên văn phương Tây cũng du nhập từ Hy Lạp và Á Rập thôi (rất nhiều tên sao thông dụng gốc tiếng Á Rập). Nhưng du nhập rồi và cải biên để nói gốc tích từ dân tộc mình là điều mà một số chuyên gia UNESCO gọi là “gian lận văn hóa”.

Trong điều kiện không thể nghiên cứu trực tiếp những vật thể của người Trung Hoa, chúng ta vẫn có thể tìm ra những điểm không thể chấp nhận qua những luận cứ và phản biện khoa học. Mục tiêu của chủ đề này là vậy, xin mời cùng tham cứu.

Kính bút
Đức Chính


[1] Khổ nổi ở chòm Bát Phân Nghi (Octans) cũng có sao Dị Tước là δ Oct. Tương tự mảng sao mới bổ sung (ngoài Nhị Thập Bát Tú) còn có ít nhất 3 mảng tên Hải Sơn, 2 mảng sao tên Xà Thủ, 2 mảng sao Giáp Bạch. Cho thấy người Trung Hoa đua nhau du nhập, không có hệ thống gì cả.

Post a Comment

 
Copyright © 2017 Tử Vi Lý Số
DMCA.com Protection Status
Shared by Bí Kiếp. Powered by Khoa Học Tử Vi