BREAKING NEWS

TUẦN TRIỆT

LỤC BẠI TINH

TỨ LINH TINH

LƯỢT XEM

Thursday, February 23, 2017

Huyền thoại và sự thật về thiên văn học Trung Hoa - Phần 3

Khảo sát các tài liệu thiên văn cổ Trung Hoa, chúng ta thấy chỉ một ít các ngôi sao thật sáng ở gần Thiên Cực Bắc mới được phân biệt rõ, còn ngoài ra những thiên thể người Trung Hoa gọi là “tinh” (ngôi sao) hay “tú” (ngôi sao sáng) thực ra là mảng nhiều ngôi sao (asterism).

Xem thêm:
Huyền thoại và sự thật về thiên văn học Trung Hoa - Phần 1 
Huyền thoại và sự thật về thiên văn học Trung Hoa - Phần 2

Cụ thế với vùng sao quanh Thiên Cực Bắc được gọi là Tam Viên có những ngôi sao đúng nghĩa như sao Thái Tử (太子), sao Đế (帝), bảy ngôi sao ở mảng Bắc đẩu như Thiên Xu (天樞), Thiên Tuyền (天璇), Thiên Cơ (天機), Thiên Quyền (天權), Ngọc Hoành (玉衡), Khai Dương (開陽), Dao Quang (搖光), … và một ít các sao khác; còn ngoài ra (như ở Nhị Thập Bát Tú vốn được nói nhiều) chẳng qua là những mảng sao mà người Trung Hoa không phân biệt được nên quen gọi là sao. Điều này cho thấy một số tài liệu nói trước Công nguyên một số nhân vật đã lập những danh tập cả trăm chòm sao với cả ngàn ngôi sao rõ ràng có bất ổn gì đó.


Điểm đáng chú ý nữa: với những dân tộc sống bằng nông nghiệp có mối quan tâm đến thời tiết thường lấy một ngôi sao mọc và lặn theo mùa để theo đó canh tác, người Trung Hoa phương Bắc vốn sống du mục nên chọn sao thường xuyên xuất hiện tương đối cố định trên bầu trời để xác định phương hướng.

Thế nhưng mảng sao Bắc Đẩu mà ngày nay được người Trung Hoa xác định như bản đồ nêu trên có đúng ý nghĩa chăng? Mảng Bắc Đẩu hiện nay nằm ngoài hai bức tường của Tử Vi Viên (Tử Vi Tả Viên và Tử Vi Hữu Viên), thuộc chòm Đại Hùng. Bên trong hai vòng tường Tử Vi Viên lại có sao Bắc Cực (Polaris) nằm ngay Thiên cực Bắc, thiên văn hiện đại xếp vào Tiểu Đẩu (Little Dipper) cùng với 6 ngôi sao sáng khác. Mảng sao này có đuôi “cán gáo” là sao Bắc Cực và “cái gáo” sẽ quay vòng theo sự chuyển động của Trái Đất, rất xứng đáng làm sao chuẩn làm mốc cho những chuyến du hành. Phải chăng có sự nhầm lẫn?



Thưa không. Chòm Bắc Đẩu ở ngoài (Big Dipper) tuy nằm xa sao Bắc cực nhưng định vị theo ngôi sao này: đường thắng nối Thiên Xu (a UMa – Dubb) với sao Thiên Tuyền (b UMa – Merak) luôn luộn trực chỉ đến sao Bắc Cực (Polaris), đường nối sao Thiên Quyền đến Thiên Cơ (g UMa – Phacd) luôn chỉ về sao Hiên Viên đệ thập (α Leo – Regulus); như thế vị trí tương đối của tứ giác “cái gáo” luôn luôn ổn định. Cái cán gáo cong cong cũng luôn luôn chỉa về sao Đại Giác (α Boo – Arcturus) và Giác Tú đệ nhất (α Vir – Spica) là hai sao sáng nên dễ xác định và vị trí tương đối của “cán gáo” cũng không thay đổi. 

Như thế dù có quay vòng đối với Trái đất nó vẫn có vị trí tương đối cố định so với các tinh tú khác. Thêm nữa, Bắc Đẩu không quá sát với Thiên cực Bắc nên một vùng rộng lớn Bắc Bán Cầu dễ dàng quan sát hơn, Trung Hoa là trường hợp điển hình. 

Sự quay của cái cán giáo phù hợp với chu kỳ vòng quay của Trái đất quanh Mặt trời, lại chỉ là một điểm (thay vì nguyên cái gáo) nên dễ định vị mùa tiết hơn. Đó là điều được Lê Quý Đôn viết trong cuốn Vân Đài Loại Ngữ Từ khi chuôi sao Bắc Đẩu chỉ hướng Mão (tháng 2), chính là tiết Xuân Phân, cho đến tiết Lập Hạ giữa tháng Tỵ (tháng 4) là lúc Thiếu Dương quân hỏa làm chủ khí, tiết trời lúc ấy sáng sủa, là đức của vua chúa. Từ khi chuôi sao Bắc Đẩu chỉ hướng Tỵ (tháng 4), chính là tiết Tiểu Mãn, cho đến tiết Tiểu Thử vào giữa tháng Mùi (tháng 6) là lúc Thiếu Âm tướng hỏa làm chủ khí, tiết trời lúc ấy nóng dữ, là lúc tướng hỏa làm việc. 

Từ khi chuôi sao Bắc Đẩu chỉ hướng Mùi (tháng 6), chính là tiết Đại Thử, cho đến tiết Bạch Lộ vào giữa tháng Dậu (tháng 8), là Thái Âm thấp thổ làm chủ khí, tiết trời lúc ấy mây mưa nhiều, khí ẩm thấp bốc lên. Từ khi chuôi sao Bắc Đẩu chỉ hướng Dậu (tháng 8), chính là tiết Thu Phân, cho đến tiết Lập Đông vào giữa tháng Hợi (tháng 10), là lúc Dương minh táo kim làm chủ khí, tiết trời đến lúc ấy thì vạn vật đều khô ráo. 

Từ khi chuôi sao Bắc Đẩu chỉ hướng Hợi (tháng 10), chính là tiết Tiểu Tuyết, cho đến Đại Tuyết (vào giữa tháng 12) là Thái Dương hàn thủy làm chủ khí, lúc ấy tiết trời rét quá. Từ khi chuôi sao Bắc Đẩu chỉ hướng Sửu (tháng 12), chính là tiết Đại Hàn, cho đến tiết Kinh Trập (vào giữa tháng 2) là lúc Quyết Âm phong mộc làm chủ khí, tiết trời lúc ấy gió nhiều. Ấy là mỗi tiết khí ở trong khoảng hơn 60 ngày, quanh khắp vòng trời, hết rồi lại quay lại.  Với chòm Tiểu Đẩu (Little Dipper) chuôi luôn luôn nằm ở Thiên Cực Bắc thì không phải là điều cụ Lê Quý Đôn nói.

Thế nhưng Khổng Tử nói: Dùng Đạo đức để cầm quyền, giống như sao Bắc Thần có nơi của nó để cho các ngôi sao vây quanh (Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi – Luận Ngữ: Vi Chính 2). Rõ ràng mảng Bắc Đẩu nằm chệch một bên Tử Vi Viên thì không thể là “nơi cho các sao hội tụ về”, sao mà đứng trên đất Trung Hoa có thể thấy các sao khác hội tụ về chính là sao Bắc Cực (thiên văn cổ Trung Hoa gọi là Câu Trần đệ nhất hoặc có thể cả mảng sao Câu Trần). Hẳn có sự nhầm lẫn gì đó.

Một trường hợp được ghi chép trong sử sách lại có thể giải thích phần nào cho sự nhầm lẫn này. Triệu Quát đời Tống viết; Trước đời Hán, người ta tưởng rằng sao Bắc Thần ở trung tâm điểm trời, vì thế gọi là Cực tinh. Tổ Hằng Chi (430-501) dùng ống vọng đồng đã nhận ra rằng điểm cố định trên trời cách sao Bắc Thần chừng 1o. Đời vua Thần Tông (1068-1077), tôi được lệnh vua coi thiên văn đài. Tôi liền cố dùng ống vọng đồng để xác định Bắc Cực. Ngay tối đầu tiên, tôi nhận thấy sao Bắc Thần dần dần chuyển dịch ra khỏi ống vọng đồng. Tôi biết là lòng ống vọng đồng còn quá nhỏ, nên tôi tăng dần lỗ ống cho to hơn. Sau ba tháng trời điều chỉnh, tôi mới nhìn thấy sao Bắc Thần quay trong lòng ống, không chếch ra ngoài nữa. Và tôi thấy sao Bắc Thần cách Bắc Cực khoảng 3o. Thế là rõ, có hai trường hợp xảy ra: 1) Từ đời nhà Hán trở về trước sao Bắc Thần tức là sao Bắc Cực (Polaris) và từ đời Tống với sự giao lưu với phương Tây các nhà thiên văn học đã điều chỉnh thành mảng Bắc Đẩu như ngày nay từng biết; 2) Bắc Thần và Bắc Đẩu từ xưa là 2 mảng sao khác nhau, do chữ dùng gần giống nhau nên lẫn lộn.

Dù sao ngày nay điều này đã được khẳng định rồi, nhưng không khỏi làm những vị mới bước đầu làm quen với thiên văn học cổ Trung Hoa lấy làm lúng túng.

1.- Tam Viên
Như đã nêu ở bài 2, tầng lớp Nho gia và Mặc gia đã hình thành một bầu trời như một triều đình để bảo vệ học thuyết của họ trước vũ trụ luận của Lão Tử. Như đã nói: nếu Hy Lạp thần thoại hóa thiên văn, thì người Trung Hoa thiên văn hóa triết học. Học thuyết thiên mệnh của Nho gia đã chia vùng cực Bắc bầu trời như một thành trì của một đế chế.

Xưa kia nơi đế đô các vị hoàng đế xây dựng nơi cai trị cũng đồng thời là nơi trấn thủ, cố đô Bắc Kinh là một ví dụ. Vòng trong cùng là Tử Cấm Thành dùng cho vua và một số hoàng thất đại thần, vòng giữa là nơi triều chính và các cơ quan của quan lại, vòng ngoài là nơi dân sih sống. Cả ba vòng này có thể có đầy đủ tường hào vây quanh hay chỉ một hay hai vòng có, nhưng nhất thiết Tử Cấm Thành luôn có vòng tường hào kiên cố. Sơ đồ này được tái thiết kế trên bầu trời với Tam Viên (viên 垣: có nghĩa là vòng tường thấp, khác với chữ viên 園 là khu vườn như nhiều người hiểu sai).

Vùng thiên Cực Bắc được vạch ra 3 vòng thành: trong cùng là Tử Vi Viên, cắt chéo bên trái là Thái Vi Viên và vòng trệch bên phải là Thiên Thị Viên. Nói rộng hơn, Tử vi viên là triều đình trung ương, Thái vi viên là phiên trấn bên ngoài và Thiên thị viên là các chư hầu. Trong đó các sao trong từng viên cũng mang tên theo như bố trí một xã hội quân chủ cổ đại với từng chức năng khác nhau. Trước nhất chúng ta khảo sát Tử Vi Viên.







Sát với Thiên cực Bắc có sao Đế, sao Thái Tử, sao Hoàng Tử (thiên văn gọi là Thứ Tử), sao Hậu Cung: tức là gia đình của nhà vua. Xa ra ngoài một chút là các quan cận thần như các sao Tứ Phụ (tứ trụ cận thần), ra nữa là bá quan triều nội vây quanh thành 2 vòng Tử Vi Tả Viên và Tử Vi Hữu Viên. Ngoài cùng của Tư Vi Viên là kho tàng (Bát Cốc, Thiên thương), nơi lưu trú cho sứ thần (Truyền Xá), … và cả cung phi hầu hạ (Nữ Sử, Ngự Nữ). Cơ cấu triều đình ngày xưa cũng y như thế. Tử Vi Viên (紫微垣) có các mảng sao dưới đây:

Mảng Bắc Cực (北極) có 5 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là chòm Tiểu Hùng (Ursa Minor) và chòm Lộc Báo (Camelopardalis), gồm: sao Thái Tử (太子) tức sao Pherkad (γ UMi), sao Đế (帝) tức sao Kocab (β UMi), sao Thứ Tử đệ nhất nghĩa là “con thứ phi” (庶子) 5 UMi, sao Thứ Tử đệ nhị nghĩa là “con thứ phi” (庶子) tức sao 3 UMi, sao Thứ Tử tăng tam nghĩa là “con thứ phi” (庶子) tức sao 10 UMi, sao Hậu Cung (後宮) tức sao (4 UMi), sao Thiên Xu có nghĩa “then trời” (天樞) tức sao Σ 1694 Cam.

Mảng Tứ Phụ nghĩa là “bốn quan phò tá” (四輔) có 4 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là chòm Tiểu Hùng (Ursa Minor) và chòm Lộc Báo (Camelopardalis): 1) Tứ Phụ đệ nhất thuộc chòm Tiểu Hùng (Ursa Minor) không xác định được, 2) Tứ Phụ đệ nhị tức sao HD 89571 Cam, 3) Tứ Phụ đệ tam tức sao HD 90089 Cam, 4) Tứ Phụ đệ tứ thuộc chòm Tiểu Hùng không xác định được.

Mảng Thiên Ất – tên một vị thần (天乙) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại lả Thiên Long (Draco); tức sao 10 Dra.

Mảng Thái Ất – tên một vị thần (太乙) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thiên Long (Draco); tức sao HD 119476 Dra.

Mảng Tử Vi Tả Viên nghĩa là “tường bên trái cung Tử Vi” (紫微左垣) có 8 sao chỉ các chức quan thuộc 3 chòm sao hiện đại là Thiên Long (Draco), Tiên Vương (Cepheus) và Tiên Hậu (Cassiopeia); gồm: 1) sao Tả Xu có nghĩa là “cột bên trái” (左樞) tức sao Al Dhiba (τ Dra); 2) sao Thượng Tể (上宰) tức sao θ Dra; 3) sao Thiếu Tể (少宰) tức sao Aldhibain (η Dra); 4) sao Thượng Bật (上弼) tức sao Aldhibah (ζ Dra); 5) sao Thiếu Bật (少弼) tức sao υ Dra; 6) sao Thượng Vệ (上卫) tức sao 73 Dra; 7) sao Thiếu Vệ (少卫) tức sao γ Cep; 8) sao Thiếu Thừa (少丞) tức sao 23 Cas.

Mảng Tử Vi Hữu Viên nghĩa là “tường bên phải cung Tử Vi” (紫微右垣) có 7 sao chỉ các chức quan thuộc 3 chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major), Thiên Long (Draco) và Lộc Báo (Camelopardalis); gồm có: 1) sao Hữu Xu (右樞) tức sao Thuban (α Dra); 2) sao Thiếu Úy (少尉) tức sao κ Dra; 3) sao Thượng Phụ (上辅) tức sao Gianfar (λ Dra); 4) sao Thiếu Phụ (少辅) tức sao 24 UMa, 5) sao Thượng Vệ (上卫) tức sao 43 Cam, 6) sao Thiếu Vệ (少卫) tức sao α Cam, 7) sao Thượng Thừa (上丞) tức sao BK Cam.



Mảng Âm Đức (陰德) có 2 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thiên Long (→Draco): 1) Âm Đức đệ nhất tức sao HIP 51808 Dra, 2) Âm Đức đệ nhị tức sao HIP 51734 Dra.

Mảng Thượng Thư (尚書) 5 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Tiểu Hùng (Ursa Minor) và Thiên Long (Draco), gồm: 1) Thượng Thư đệ nhất tức sao ω Dra, 2) Thượng Thư đệ nhị tức sao 15 Dra, 3) Thượng Thư đệ tam tức sao 18 Dra, 4) Thượng Thư đệ tứ tức sao HD 148293 UMi, 5) Thượng Thư đệ ngũ tức sao 19 Dra.

Mảng Nữ Sử có nghĩa “nữ quan ở hậu cung” (女史) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thiên Long (Draco), tức sao Dsiban (y Dra).

Mảng Trụ Sử (柱史) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thiên Long (Draco), tức sao (φ Dra).

Mảng Ngự Nữ (御女) có 4 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thiên Long (Draco): 1) Ngự Nữ đệ nhất tức sao (τ Dra), 2) Ngự Nữ đệ nhị tức sao (50 Dra), 3) Ngự Nữ đệ tam tức sao (29 Dra), 4) Ngự Nữ đệ tứ tức sao (χ Dra).

Mảng Thiên Trụ (天柱) có 5 sao thuộc 2 chòm sao phương Tây Thiên Long (Draco) và Tiên Vương (Cepheus): 1) Thiên Trụ đệ nhất tức sao (77 Dra), 2) Thiên Trụ đệ nhị tức sao (76 Cep), 3) Thiên Trụ đệ tam tức sao (69 Dra), 4) Thiên Trụ đệ tứ tức sao (59 Dra), 5) Thiên Trụ đệ ngũ tức sao (41 Dra).

Mảng Đại Lý (大理) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Lộc Báo (Camelopardalis): 1) Đại Lý đệ nhất tức sao (CO Cam), 2) Đại lý đệ nhị không xác định được.

Mảng Câu Trần (勾陳) có 6 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Minor) và Tiên Vương (Cepheus): Câu Trần đệ nhất tức sao Alruccabah (a UMi), Câu Trần đệ nhị tức sao Gildun (d UMi), Câu Trần đệ tam tức sao (ε UMi), Câu Trần đệ tứ tức sao Alifa (x UMi), Câu Trần đệ ngũ tức sao (2 UMi), Câu Trần đệ lục tức sao HD 30338 Cep.

Mảng Lục Giáp (六甲) có 6 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Lộc Báo (Camelopardalis) và Tiên Vương (Cepheus); 1) Lục Giáp đệ nhất tức sao HIP 32439 Cam, 2) Lục Giáp đệ nhị tức sao M Cam, 3) Lục Giáp đệ tam tức sao HIP 39538 Cam, 4) Lục Giáp đệ tứ tức sao (VZ Cam), 5) Lục Giáp đệ ngũ tức sao HD 30338 Cep, 6) Lục Giáp đệ lục tức sao K Cam.

Mảng Thiên Hoàng Đại Đế (天皇大帝) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Tiên Vương (Cepheus); tức sao HD 212710 Cep.

Mảng Ngũ Đế Nội Tọa (五帝內座) có 5 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Tiên Vương (Cepheus) và Tiên Hậu (Cassiopeia): 1) Ngũ Đế Nội Tọa đệ nhất tức sao HD 18438 Cep, 2) Ngũ Đế Nội Tọa đệ nhị tức sao 47 Cas, 3) Ngũ Đế Nội Tọa đệ tam tức sao HD 16458 Cep, 4) Ngũ Đế Nội Tọa đệ tứ tức sao HD 19978 Cep, 5) Ngũ Đế Nội Tọa đệ ngũ tức sao HD 25007 Cep.

Mảng Hoa Cái (華蓋) có 7 sao thuộc chòm sao hiện đại là Tiên Hậu (Cassiopeia): 1) Hoa Cái đệ nhất không xác định được, 2) Hoa Cái đệ nhị tức sao 40 Cas, 3) Hoa Cái đệ tam tức sao V762 Cas/HD 5715 Cas, 4) Hoa Cái đệ tứ tức sao 31 Cas, 5) Hoa Cái đệ ngũ tức sao ψ Cas, 6) Hoa Cái đệ lục tức sao 43 Cas, 7) Hoa Cái đệ thất tức sao ω Cas.

Mảng Giang có nghĩa là “cán cờ” (杠) có 9 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Tiên Hậu (Cassiopeia) và Lộc Báo (Camelopardalis): 1) Giang đệ nhất tức sao γ Cam, 2) Giang đệ nhị tức sao HD 19275 Cas, 3) Giang đệ tam tức sao 49 Cas, 4) Giang đệ tứ tức sao 51 Cas, 5) Giang đệ ngũ tức sao 50 Cas, 6) Giang đệ lục tức sao 54 Cas, 7) Giang đệ thất tức sao 48 Cas, 8) Giang đệ bát tức sao 42 Cas, 9) Giang đệ cửu tức sao 38 Cas.

Mảng Truyền Xá có nghĩa là “nhà khách cho sứ giả” (傳舍) có 9 sao thuộc 3 chòm sao hiện đại là Tiên Hậu (Cassiopeia), Song Ngư (Pisces) và Lộc Báo (Camelopardalis): 1) Truyền Xá đệ nhất tức sao 20 Psc, 2) Truyền Xá đệ nhị tức sao 16 Cas, 3) Truyền Xá đệ tam tức sao 32 Cas, 4) Truyền Xá đệ tứ tức sao 32 Ca), 5) Truyền Xá đệ ngũ tức sao 55 Cas, 6) Truyền Xá đệ lục tức sao HD 17948 Cas, 7) Truyền Xá đệ thất tức sao CS Cam, 8) Truyền Xá đệ bát tức sao CE Cam, 9) Truyền Xá đệ cửu tức sao D Cam.

Mảng Nội Giai (內階) có 6 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major): 1) Nội Giai đệ nhất tức sao ο UMa, 2) Nội Giai đệ nhị tức sao c UMa, 3) Nội Giai đệ tam tức sao 6 UMa, 4) Nội Giai đệ tứ tức sao 23 UMa, 5) Nội Giai đệ ngũ tức sao b UMa, 6) Nội Giai đệ lục tức sao 17 UMa.
Mảng Thiên Trù (天廚) có 6 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thiên Long (Draco): 1) Thiên Trù đệ nhất tức sao Aldib (d Dra), 2) Thiên Trù đệ nhị tức sao Alsafi (s Dra), 3) Thiên Trù đệ tam tức sao Tyl (e Dra), 4) Thiên Trù đệ tứ tức sao ρ Dra, 5) Thiên Trù đệ ngũ tức sao e Dra, 6) Thiên Trù đệ lục tức sao π Dra.

Mảng Bát Cốc (八穀) có 8 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Lộc Báo (Camelopardalis) và Ngự Phu Auriga: 1) Bát Cốc đệ nhất tức sao δ Aur,  2) Bát Cốc đệ nhị tức sao ξ Aur,  3) Bát Cốc đệ tam tức sao 26 Cam,  4) Bát Cốc đệ tứ tức sao 14 Cam,  5) Bát Cốc đệ ngũ tức sao 7 Cam,  6) Bát Cốc đệ lục tức sao 9 Au),  7) Bát Cốc đệ thất tức sao 11 Cam,  8) Bát Cốc đệ bát tức sao 31 Cam.

Mảng Thiên Bang nghĩa là “đòn xóc đập lúa của trời” (天棓) có 5 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Thiên Long (Draco) và Vũ Tiên (Hercules): 1) Thiên Bang đệ nhất ι Her, 2) Thiên Bang đệ nhị γ Dra, 3) Thiên Bang đệ tam β Dra, 4) Thiên Bang đệ tứ ν Dra, và 5) Thiên Bang đệ ngũ ξ Dra.

Mảng Nội Trù nghĩa là “bếp trong nhà” (內廚) có 2 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thiên Long (Draco): 1) Nội Trù đệ nhất tức sao 7 Dra, 2) Nội Trù đệ nhị tức sao 8 Dra.

Mảng Văn Xương (文昌) có 6 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major): 1) Văn Xương đệ nhất không xác định được, 2) Văn Xương đệ nhị tức sao υ UMa, 3) Văn Xương đệ tam tức sao φ UMa, 3) Văn Xương đệ tứ tức sao θ UMa, 5) Văn Xương đệ ngũ tức sao f UMa, 6) Văn Xương đệ lục tức sao e UMa.

Mảng Tam Sư (三師) có 3 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major): 1) Tam Sư đệ nhất tức sao ρ UMa, 2) Tam Sư đệ nhị không xác định được, 3) Tam Sư đệ tam tức sao σ1 UMa.

Mảng Tam Công (三公) có 3 sao thuộc chòm sao hiện đại là Lạp Khuyển (Canes Venatici): 1) Tam Công đệ nhất là sao M51 CVn, 2) Tam công đệ nhị tức sao 24 CVn, 3) Tam công đệ tam tức sao 21 CVn.

Mảng Thiên Sàng có nghĩa “giường trời” (天床) có 6 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Tiểu Hùng (Ursa Minor) và Thiên Long (Draco): 1) Thiên Sàng đệ nhất tức sao HIP 69373 UMi, 2) Thiên Sàng đệ nhị tức sao HIP 74605 UMi, 3) Thiên Sàng đệ tam tức sao HIP 77277 Dra, 4) Thiên Sàng đệ tứ tức sao HIP 79414 Dra, 5) Thiên Sàng đệ ngũ tức sao RR UMi, 6) Thiên Sàng đệ lục tức sao 6 UMi.
Mảng Thái Tôn có nghĩa “cực tôn kính” (太尊) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major); tức sao ψ UMa.

Mảng Thiên Lao có nghĩa “nhà tù trên trời”  (天牢) có 6 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major): 1) Thiên Lao đệ nhất tức sao ω UMa, 2) Thiên Lao đệ nhị tức sao 57 UMa, 3) Thiên Lao đệ tam tức sao 47 UMa, 4) Thiên Lao đệ tứ tức sao 58 UMa, 5) Thiên Lao đệ ngũ tức sao 49 UMa, 6) Thiên Lao đệ lục tức sao 56 UMa.

Mảng Thái Dương Thủ (太陽守) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major); tức sao Al Kaphrah (c UMa).

Mảng Thế (勢) có 4 sao thuộc chòm sao hiện đại là Tiểu Sư (Leo Minor): 1) Thế đệ nhất tức sao 34 LMi, 2) Thế đệ nhị tức sao 33 LMi, 3) Thế đệ tam tức sao 42 LMi,  4) Thế đệ tứ tức sao Praecipua (46 LMi).

Mảng Tướng (相) có 1 sao thuộc sao hiện đại là Lạp Khuyển (Canes Venatici); tức sao 5 CVn.

Mảng Huyền Qua có nghĩa “cây mác đen” (玄戈) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Mục Phu (Boötes): sao Marrha (38 Boo).

Mảng Thiên Lý nghĩa “luật trời” (天理) có 4 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major): 1) Thiên Lý đệ nhất tức sao HIP 55060 UMa, 2) Thiên Lý đệ nhị tức sao HIP 55797 UMa, 3) Thiên Lý đệ tam tức sao 66 UMa, 4) Thiên Lý đệ tứ tức sao HIP 58259 UMa.

Mảng Bắc Đẩu (北斗) có 7 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major), gồm: 1) Thiên Xu (天樞) tức sao Dubb (a UMa); 2) Thiên Tuyền (天璇) tức sao Merak (b UMa); 3) Thiên Cơ (天機) tức sao Phacd (g UMa); 4) Thiên Quyền (天權) tức sao Kaffa (d UMa); 5) Ngọc Hoành (玉衡) tức sao Alioth (e UMa); 6) Khai Dương (開陽) tức sao Mirza (z UMa); 7) Dao Quang (搖光) tức sao Alkaid (h UMa).

Mảng Phụ có nghĩa “người phò tá” (輔) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major); tức sao 80 UMa.

Mảng Thiên Thương (天槍) có 3 sao thuộc chòm sao hiện đại là Mục Phu (Boötes): Thiên Thương đệ nhất tức sao Asellus Tertius (k Boo); Thiên Thương đệ nhị tức sao Asellus Secundus (i Boo); Thiên Thương đệ tam tức sao Asellus Primus (q Boo).






Thái Vi Viên tựa như phiên giậu của triều đình, các sao được đặt tên như các quan văn võ ở phiên trấn. Cơ cấu cũng có 2 bức tường Tả Vi và Hữu Vi tạo thành những quan ải trấn thủ, phản ảnh quan niệm binh bị trong tư duy thiên văn. Nếu trong Tử Vi cung có các mảng sao mang tên những quan cai trị tham mưu thì Thái Vi mang sắc thái tướng sĩ biên cương và quan cai trị địa phương. Thái Vi Viên có các mảng sau:

Mảng Thái Vi Tả Viên có nghĩa “bức tường bên trái cung Thái Vi” (太微左垣) nằm trong 2 chòm sao hiện đại là Thất Nữ (Virgo) và Hậu Phát (Coma Berenices); gồm có 5 sao: 
  • 1) Tả Viên đệ nhất Tả Chấp Pháp nghĩa là “người thi hành pháp luật bên trái” (左執法) tức sao Zaniah (h Vir); 
  • 2) Tả Viên đệ nhị Đông Thượng Tướng nghĩa là vị “thượng tướng ở phía Đông” (東上相) tức sao Porrima (g Vir); 
  • 3) Tả Viên đệ tam Đông Thứ Tướng nghĩa là “phó tướng ở phía Đông” (東次相) tức sao Minelauva (d Vir);  
  • 4) Tả Viên đệ tứ Đông Thứ Sư nghĩa là “phó quân sư ở phía Đông” ((東次將)  tức sao Alaraph (e Vir); 
  • 5) Tả Viên đệ ngũ Đông Thượng Sư nghĩa là “vị chánh quân sư ở phía Đông” (東上將)  tức sao Diadem (a Com).

Mảng Thái Vi Hữu Viên có nghĩa “bức tường bên phải cung Thái Vi” (太微右垣) nằm trong 2 chòm sao hiện đại là Sư Tử (Leo) và Thất Nữ (Virgo); gồm có 5 sao: 
  • 1) Hữu Viên đệ nhất Hữu Chấp Pháp nghĩa là “người thi hành pháp luật bên phải”( 右執法) tức sao Zawijah (b Vir); 
  • 2) Hữu Viên đệ nhị Tây Thượng Sư nghĩa là vị “chánh quân sư ở phía Tây” (西上將), tức sao σ Leo;
  • 3) Hữu Viên đệ tam Tây Thứ Sư nghĩa là “phó quân sư ở phía Tây” (西次將) tức sao ι Leo; 
  • 4) Hữu Viên đệ tứ Tây Thứ Tướng nghĩa là “phó tướng ở phía Tây”  (西次相) tức sao Chertan (q Leo); 
  • 5) Hữu Viên đệ ngũ Tây Thượng Tướng (西上相) nghĩa là vị “thượng tướng ở phía Tây” tức sao Dhur (d Leo).



Màng Yết Giả nghĩa là “quan đón khách” (謁者) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thất Nữ (Virgo): 16 Vir.

Mảng Tam Công có nghĩa “ba vị tước công” (三公) có 3 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thất Nữ (Virgo), 1) Tam Công đệ nhất không xác định được, 2) Tam công đệ nhị tức sao 31 Vir, 3) Tam công đệ tam tức sao 35 Vir.

Mảng Cửu Khanh có nghĩa “chín vị tước khanh” (九卿) có 3 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thất Nữ (Virgo): Cửu Khanh đệ nhất tức sao ρ Vir, Cửu Khanh đệ nhị tức sao 32 Vir, Cửu Khanh đệ tam không xác định được.

Mảng Ngũ Chư Hầu có nghĩa “năm vị chư hầu” (五諸侯), có 5 sao thuộc chòm sao hiện đại là Hậu Phát (Coma Berenices): 1) Ngũ Chư Hầu đệ nhất tức sao 39 Com, 2) Ngũ Chư Hầu đệ nhị tức sao 36 Com, 3) Ngũ Chư Hầu đệ tam tức sao 27 Com, 4) Ngũ Chư Hầu đệ tứ không xác định được, 5) Ngũ Chư Hầu đệ ngũ tức sao 6 Com. Có sự trùng lặp tên gọi: cung Tỉnh Tú cũng có 5 sao Ngũ Chư Hầu thuộc chòm Song Tử (Gemini).

Mảng Nội Bình có nghĩa “màn chắn gió phía trong” (內屏), có 4 sao thuộc chòm sao hiện đại là Thất Nữ (Virgo): 1) Nội Bình đệ nhất tức sao ξ Vir, 2) Nội Bình đệ nhị tức sao ν Vir, 3) Nội Bình đệ tam tức sao π Vir, 4) Nội Bình đệ tứ tức sao ο Vir.

Mảng Ngũ Đế Tọa có nghĩa “năm ngai vua” (五帝座) có 5 sao thuộc chòm sao hiện đại là Sư Tử (Leo): 1) Ngũ Đế Tọa đệ nhất là sao Denebola (b Leo), 2) Ngũ Đế Tọa đệ nhị là sao HD 102660 Leo, 3) Ngũ Đế Tọa đệ tam HD 102103 Leo, 4) Ngũ Đế Tọa đệ tứ là sao (95 Leo), 5) Ngũ Đế Tọa đệ ngũ là sao HD 102910 Leo.

Mảng Hạnh Thần có nghĩa là “thần chủ hạnh phúc” (幸臣) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Hậu Phát (Coma Berenices): HD 104207 Com.

Mảng Thái Tử (太子) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Sư Tử (Leo), tức sao 93 Leo. Tử Vi Viên cũng có sao Thái Tử, gần sao Đế.

Mảng Tòng Quan nghĩa là “quan theo hầu” (從官) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Sư Tử (Leo), tức sao 92 Leo.

Mảng Lang Tướng nghĩa là “quan hộ vệ” (郎將) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Hậu Phát (Coma Berenices), tức sao 31 Com.
Màng Hổ Bôn có nghĩa là “quân hộ vệ” (虎賁) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Sư Tử (Leo), tức sao 72 Leo.

Mảng Thường Trận có nghĩa là “bày trận” (常陳) có 7 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Lạp Khuyển (Canes Venatici) và Đại Hùng (Ursa Major): 1) Thường Trận đệ nhất tức sao Cor Caroli (a CVn), 2) Thường Trận đệ nhị tức sao 10 CVn, 3) Thường Trận đệ tam tức sao 9 CVn, 4) Thường Trận đệ tứ tức sao Chara (bCVn), 5) Thường Trận đệ ngũ tức sao 6 CVn, 6) Thường Trận đệ ngũ tức sao 2 CVn, 7) Thường Trận đệ thất tức sao 67 UMa.

Mảng Lang Vị có nghĩa là “ngôi quan” (郎位) có 15 sao thuộc chòm sao hiện đại là Hậu Phát (Coma Berenices): Lang Vị đệ nhất tức sao γ Com, Lang Vị đệ nhị không xác định được, Lang Vị đệ tam tức sao 14 Com, Lang Vị đệ tứ tức sao 16 Com, Lang Vị đệ ngũ tức sao 17 Com, Lang Vị đệ lục tức sao 13 Com, Lang Vị đệ thất tức sao 12 Com, Lang Vị đệ bát tức sao 21 Com, Lang Vị đệ cửu tức sao 18 Com, Lang Vị đệ thập tức sao 7 Com, Lang Vị thập nhất tức sao 23 Com, Lang Vị thập nhị tức sao 26 Com, Lang Vị thập tam tức sao 20 Com, Lang Vị thập tứ tức sao 5 Com, và Lang Vị thập ngũ tức sao 2 Com.

Mảng Minh Đường có nghĩa là “gian sảnh sáng”(明堂) có 3 sao thuộc chòm sao hiện đại là Sư Tử (Leo): Minh Đường đệ nhất tức sao τ Leo, Minh Đường đệ nhị tức sao υ Leo, và Minh Đường đệ tam tức sao 87 Leo.

Mảng Linh Đài có nghĩa là “đài quan sát trời” (靈台) có 3 sao thuộc chòm sao hiện đại là Sư Tử (Leo): Linh Đài đệ nhất tức sao 52 Leo, Linh Đài đệ nhị tức sao 54 Leo và Linh Đài đệ tam tức sao 51 Leo.

Mảng Thiếu Vi (tên chức quan) (少微) có 4 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Sư Tử (Leo) và Tiểu Sư (Leo Minor): 1) Thiếu Vi đệ nhất tức sao 67 Leo, 2) Thiếu Vi đệ nhị tức sao 54 Leo, 3) Thiếu Vi đệ tam tức sao 41 LMi, 4) Thiếu Vi đệ tứ tức sao 51 Leo.

Mảng Trường Viên có nghĩa “bức tường dài” (長垣) có 4 sao thuộc chòm sao hiện đại là Sư Tử (Leo): Trường Viên đệ nhất tức sao 46 Leo, Trường Viên đệ nhị tức sao 52 Leo, Trường Viên đệ tam tức sao 53 Leo, và Trường Viên đệ tứ tức sao 48 Leo.

Mảng Tam Thai có nghĩa “ba bậc đài” (三台) có 6 sao thuộc chòm sao hiện đại là Đại Hùng (Ursa Major); gồm Thượng Thai đệ nhất (上台一) tức sao Dnoces (i UMa), Thượng Thai đệ nhị (上台二) tức sao El Kaprah (k UMa), Trung Thai đệ nhất (中台一) tức sao Tania Borealis (l UMa), Trung Thai đệ nhị (中台二) tức sao Tania Australis (m UMa), Hạ Thai đệ nhất (下台一) tức sao Alula Boreale (η UMa), Hạ Thai đệ nhị (下台二) tức sao Alula Australe (x UMa).



Thiên Thị Viên là các chư hầu phiên thuộc. Hình tượng được dựng lên là các sao mang tên các nước thời Xuân Thu và Chiến Quốc tạo thành hai bức tường Thiên Thị Tả Viên và Thiên Thị Hữu Viên, phản ảnh tư tưởng chính trị cao độ trong thiên văn Trung Hoa. Mặt khác cũng nói lên yếu tố kinh tế thương mại của đế chế các mảng sao Thị Lâu, Xa Tứ, Bạch Độ, Đấu, Hộc, … cùng với yếu tố văn hóa tín ngưỡng như Tông Nhân, Tông Chính. Thiên Thị Viên chia làm các mảng sau:

Mảng Thiên Thị Tả Viên có nghĩa “bức tường bên trái Thiên Thị” (天市左垣) chỉ các nước chư hầu và vùng đất; có 11 sao thuộc 4 chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules), Cự Xà (Serpens), Xà Phu (Ophiuchus) và Thiên Ưng (Aquila):
1) sao Ngụy (魏) tức sao Sarin (d Her);
2) sao Triệu (趙) tức sao Maasym (l Her);
3) sao Cửu Hà (九河) tức sao (μ Her);
4) sao Trung Sơn (中山) tức sao ο Her;
5) sao Tề (齊) tức sao 110 Her;
6) sao Ngô Việt (吳越) tức sao Deneb el Okab (ζ Aql);
7) sao Từ (徐) tức sao Alga (θ Ser);
8) sao Đông Hải (東海) tức sao η Ser;
9) sao Yên (燕) tức sao (ν Oph);
10) sao Nam Hải (南海) tức sao ξ Ser;
11) sao Tống (宋) tức sao Sabik (η Oph).

Mảng Thiên Thị Hữu Viên có nghĩa “bức tường bên phải Thiên Thị” (天市右垣) chỉ các nước chư hầu và vùng đất; có 11 sao thuộc 3 chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules), Cự Xà (Serpens), và Xà Phu (Ophiuchus):
1) sao Hà Trung (河中) tức sao Rutilicus (β Her);
2) sao Hà Gian (河間) tức sao γ Her;
3) sao Tấn (晉) tức sao Marsik (κ Her);
4) sao Trịnh (鄭) tức sao Ainalhai (γ Ser);
5) sao Chu (周) tức sao β Ser;
6) sao Tần (秦) tức sao Nasak Yamani I (δ Ser);
7) sao Thục (蜀) tức sao Unuk (α Ser);
8) sao Ba (巴) tức sao ε Ser;
9) sao Lương (梁) tức sao Yed Prior (δ Oph);
10) sao Sở (楚) tức sao Yed Posterior (ε Oph);
11) sao Hàn (韓) tức sao Han (η Oph).

Mảng Thị Lâu có nghĩa là “lầu chợ” (市樓) có 6 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Cự Xà (Serpens), và Xà Phu (Ophiuchus):
1) Thị Lâu đệ nhất tức sao μ Oph,
2) Thị Lâu đệ nhị tức sao λ Ser,
3) Thị Lâu đệ tam tức sao ν Oph,
4) Thị Lâu đệ tứ tức sao ν Ser,
5) Thị Lâu đệ ngũ không xác định được, 
6) Thị Lâu đệ lục không xác định được.

Mảng Xa Tứ nghĩa đen là “hư xe” ý chỉ nơi sửa xe cộ (車肆) có 2 sao thuộc chòm sao hiện đại là Xà Phu (Ophiuchus): 1) Xa Tứ đệ nhất tức sao υ  Oph, 2) Xa Tứ đệ nhị tức sao 20 Oph.

Mảng Tông Chính có nghĩa “quan lo việc hoàng tộc” (宗正) có 2 sao thuộc chòm sao hiện đại là Xà Phu (Ophiuchus):
1) Tông chính đệ nhất tức sao Cebelrai (b Oph);
2) Tông chính đệ nhị tức sao γ Oph.

Mảng Tông Nhân có nghĩa “quan lo việc cúng tế tông miếu” (宗人) có 4 sao thuộc chòm sao hiện đại là Xà Phu (Ophiuchus):
1) Tông Nhân đệ nhất tức sao 66 Oph,
2) Tông Nhân đệ nhị tức sao 67 Oph,
3) Tông Nhân đệ tam tức sao 68 Oph,
4) Tông Nhân đệ tứ tức sao 70 Oph.

Mảng Tông có nghĩa “tổ tiên” (宗) có 2 sao thuộc chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules):
1) Tông đệ nhất tức sao 110 Her;
2) Tông đệ nhị tức sao 111 Her.

Mảng Bạch Độ có nghĩa “người bán lụa” (帛度) có 2 sao thuộc chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules): Bạch Độ đệ nhất tức sao 95 Her, Bạch Độ đệ nhị tức sao 102 Her.

Mảng Đồ Tứ có nghĩa “người bán thịt” (屠肆) có 2 sao thuộc chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules):
1) Đồ Tứ đệ nhất tức sao 109 Her,
2) Đồ Tứ đệ nhị tức sao 98 Her.

Mảng Hầu có nghĩa “dò xét” chỉ “quan thiên văn” (候) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Xà Phu (Ophiuchus): tức sao Ras Alhagua (aOph).

Mảng Đế Tòa có nghĩa “chỗ vua ngự” (帝座) có 1 sao thuộc chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules): tức sao Rasalegti (a Her).

Mảng Hoạn Giả có nghĩa “quan thái giám” (宦者) có 4 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules) và Xà Phu (Ophiuchus): 1) Hoạn Giả đệ nhất tức sao HD 154143 Her, 2) Hoạn Giả đệ nhị tức sao HD 154228 Her, 3) Hoạn Giả đệ tam tức sao (60 Her), 4) Hoạn Giả đệ tứ tức sao 37 Oph.

Mảng Liệt Xứ có nghĩa “khách buôn từ xa đến” (列肆) có 2 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Xà Phu (Ophiuchus) và Cự Xà (Serpens): 1) Liệt Xứ đệ nhất tức sao σ Ser, 2) Liệt Xứ đệ nhị tức sao Marfic (l Oph).

Mảng Đấu có nghĩa “cái đấu đong gạo” (斗) có 5 sao thuộc chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules):
1) Đấu đệ nhất tức sao Caiam (w Her),
2) Đấu đệ nhị không xác định được,
3) Đấu đệ tam tức sao 13 Her,
4) Đấu đệ tứ tức sao 29 Her,
5) Đấu đệ ngũ tức sao 28 Her.

Mảng Hộc có nghĩa “cái hộc đong gạo” (斛) có 4 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules) và Xà Phu (Ophiuchus):
1) Hộc đệ nhất tức sao tức sao ι Oph,
2) Hộc đệ nhị tức sao κ Oph, 
3) Hộc đệ tam tức sao 47 Her, 
4) Hộc đệ tứ tức sao 43 Her.

Mảng Quán Tác có nghĩa “coi sóc hình phạt và đo lường” (貫索) có 9 sao thuộc chòm chòm sao hiện đại là Bắc Miện (Corona Borealis):
1) Quán tác đệ nhất tức sao π CrB,
2) Quán tác đệ nhị tức sao θ CrB,
3) Quán tác đệ tam tức sao Nusakan (β CrB),
4) Quán tác đệ tứ tức sao Alphecca (α CrB),
5) Quán tác đệ ngũ tức sao γ CrB,
6) Quán tác đệ lục tức sao δ CrB,
7) Quán tác đệ thất tức sao ε CrB,
8) Quán tác đệ bát tức sao ι CrB,
9) Quán tác đệ cửu tức sao ρ CrB.

Mảng Thất Công (七公) có 7 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules) và Mục Phu (Boötes):
1) Thất Công đệ nhất tức sao 42 Her,
2) Thất Công đệ nhị tức sao τ Her,
3) Thất Công đệ tam tức sao φ Her,
4) Thất Công đệ tứ tức sao χ Her,
5) Thất Công đệ ngũ tức sao ν Boo,
6) Thất Công đệ lục tức sao Venabulum (μ Boo),
7) Thất Công đệ thất tức sao δ Boo.

Mảng Thiên Kỷ có nghĩa “riềng mối của trời” hàm ý “cơ quan điều hành thương mại” (天紀) có 9 sao thuộc 2 chòm sao hiện đại là Vũ Tiên (Hercules) và Bắc miện (Corona Borealis):
1) Thiên Kỷ đệ nhất tức sao ξ CrB,
2) Thiên Kỷ đệ nhị tức sao Rutilicus ζ Her,
3) Thiên Kỷ đệ tam tức sao ε Her,
4) Thiên Kỷ đệ tứ tức sao 59 Her,
5) Thiên Kỷ đệ ngũ tức sao 61 Her,
6) Thiên Kỷ đệ lục tức sao 68 Her,
7) Thiên Kỷ đệ thất tức sao HD 160054 Her,
8) Thiên Kỷ đệ bát tức sao θ Her\),
9) Thiên Kỷ đệ cửu tức sao θ Her.

Mảng Nữ Sàng nghĩa là “giường của phụ nữ” (女床) có 3 sao thuộc chòm hiện đại là Vũ Tiên (Hercules): 
1) Nữ Sàng đệ nhất tức sao π Her, 
2) Nữ Sàng đệ nhị tức sao 69 Her, 
3) Nữ Sàng đệ tam tức sao ρ Her.

Cơ cấu tổ chức của Trời như thế, nên tuân theo “Thiên mệnh” đấng thiên tử cũng theo đó mà làm theo. Dĩ nhiên ngày nay chúng ta điều hiểu không phải trên “Thiên Đình” là như thế mà do người Trung Hoa dựng lên để cho “Chính danh”. Cho nên mới gọi là “bầu trời triều chính”. Tiếp theo chúng ta sẽ thấy sự du nhập Nhị Thập Bát Tú và từng bước “triều chính hóa” các chòm sao này như thế nào.

Xem thêm:
Huyền thoại và sự thật về thiên văn học Trung Hoa - Phần 1 
Huyền thoại và sự thật về thiên văn học Trung Hoa - Phần 2

Tác giả: Đức Chính

Post a Comment

 
Copyright © 2017 Tử Vi Lý Số
DMCA.com Protection Status
Shared by Bí Kiếp. Powered by Khoa Học Tử Vi