BREAKING NEWS

TUẦN TRIỆT

LỤC BẠI TINH

TỨ LINH TINH

LƯỢT XEM

Thursday, February 23, 2017

Huyền thoại và sự thật về thiên văn học Trung Hoa - Phần 2

Giải thích bầu trời, hay nói rộng ra cả Vũ trụ, là một mơ ước xưa nay của loài người, không loại trừ dân tộc nào. Người Trung Hoa cũng không là ngoại lệ, họ ao ước hiểu thật rõ về Vũ trụ. Tuy nhiên nhãn quan của từng dân tộc có khác nhau, nhãn quan của người Trung Hoa vốn nhiều huyền thoại và chính trị đan xen nhau. 

Có thể nói đó là đặc thù của dân tộc Trung Hoa, họ hòa trộn điều viễn tưởng (huyền thoại) với thực tế (chính trị) một cách sắc bén. Hai điều tưởng chừng trái ngược nhau lại là tiền đề cho nhau, chi phối và bổ sung lẫn nhau.


Bài 2: Vũ trụ luận Trung Hoa
 
Lần theo các chứng cứ, man mác chúng ta sẽ thấy các sách đời sau nói về chuyện đời trước đầy huyền thoại, ca tụng người xưa hết lời như những đấng siêu việt mà đời họ cần theo đó làm gương, lấy đó làm chuẩn mực. Đã là chuẩn mực, tức xếp vào hàng thánh hiền, thì tất cả phải tuyệt vời, nó phải vượt tầm con người. Nên các sách từ đời Hán trở về sau thường là những câu chuyện truyền tụng được tô vẽ thêm cho càng nhiều màu sắc huyền thoại càng tốt. 

Không chỉ trong các tác phẩm văn chương, tôn giáo, triết học … mà cả trong những tài liệu thiên văn cũng vậy. Nhưng dù sao, trí tưởng tượng bay bổng đó cũng ít nhiều đóng góp cho tư duy của nhân loại trong một khía cạnh nào đó; chẳng hạn các học thuyết Hàn Phi, Nho Gia, Tuân Tử, … trong trào lưu Bách Gia Chư Tử. Thiên văn học cũng không đứng ngoài và chúng ta lần tìm xem trí tưởng tượng của người Trung Hoa khi ngước nhìn bầu trời sẽ bay bổng thế nào.

1.- Thuyết Cái Nhiên và tuyên Dạ: vũ trụ luận nguyên sơ (primodial cosmology)
Đến đời Tống có hai thuyết được phổ biến thay thế thuyết của Trương Hành và trở thành cốt lõi cho quan niệm Vũ trụ của người Trung Hoa: trời tròn đất vuông (thiên viên địa phương – 天圓地方).
Thuyết Cái Nhiên chẳng có gì đặc biệt, có lẽ hình thành trong dân gian từ thời trước Xuân Thu Chiến Quốc, có thể từ thời Thương Hạ. Thuyết này cho rằng: Bầu trời như chiếc bát úp trên mặt đất hình vuông. Mặt đất đứng yên, các tinh tú đều quay quanh nó và khi ẩn khi hiện; Mặt trời và Mặt trăng ẩn hiện thành ngày đêm.

Thần thoại rất cổ xưa của nhiều dân tộc đã mô tả như thế rồi. Đó là điều hiển nhiên khi con người đứng trước biển hay một khoảng đồng trống mênh mông thấy các lớp mây chập chùng từ xa lại gần, từ thấp lên cao dễ dàng liên tưởng đến một cái vòm khổng lồ úp chụp lên mặt đất. Thời Hùng Vương người Việt cũng hình dung “trời tròn, đất vuông” với câu chuyện minh họa là “Sự tích Bánh dày Bánh chưng


Mô hình thần thoại của người Hy Lạp cổ đại cũng hình dung bầu trời như cái bát úp lên Trái đất, chỉ khác là “đất cũng hình tròn”. Vũ trụ đó được cấu tạo bời 5 nguyên tố “đất, nước, lửa, không khí và nguyên tố thứ 5”. Nguyên tố thứ 5 (quintessence) là nguyên tố “hư không” nằm giữa Trái đất và các vì sao như chúng ta sẽ thấy ở thuyết Tuyên Dạ.

Tuy nhiên thuyết Cái Nhiên được hoan nghênh nồng nhiệt vào thời kỳ nở rộ các dòng tư duy triết học – chính trị của Bách Gia Chư Tử. Nó được giải thích và hiểu theo quan niệm Âm Dương – Ngũ Hành: Trời tròn chỉ sự viên mãn của “lão dương”, đất vuông tượng cho Ngũ hành với đất nước Trung Hoa ở giữa và bốn phương vây quanh. 

Bốn phương đó người Trung Hoa gọi là Tứ Tượng để về sau hình thành nên Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ và Chu Tước ở bầu trời triều chính xoay quanh Tam Viên. Đây là bước khởi đầu cho khái niệm Thái cực và Lưỡng nghi – Tứ tượng man mác trong Kinh dịch. 

Dòng vũ trụ luận này càng phổ biến khi Nho học chiếm một vị thế độc tôn từ thời Hậu Hán trở về sau (cho đến hết chế độ quân chủ Trung Hoa). Cơ sở lý luận này giúp ta dễ dàng hiểu vì sao thuyết Hỗn Thiên của Trương Hành bị loại bỏ khỏi nhãn quan vũ trụ luận Trung Hoa mặc dầu dưới góc độ khoa học ngày nay thuyết này tiến bộ hơn.

Thuyết Cái Nhiên đã thỏa mãn tương đối với tư duy triết học, nhưng triết học thì không có chỗ dừng cho trí tưởng tượng Trung Hoa. Một câu hỏi khác đặt ra: Trong khoảng giữa các tinh tú và Trái đất có những gì?
Thuyết Tuyên Dạ ra đời để giải đáp điều này. Thuyết này cho rằng: Bầu trời mênh mông vô tận và trống rỗng; tinh tú chuyển dịch trong đó (có lẽ chỉ chủ yếu dựa trên quan sát các hành tinh của Thái Dương Hệ) theo thường độ của trời đất. Khi có tinh tú chuyển dịch không theo thường độ của trời đất thì sẽ có tai ương nơi Trái đất.

Thuyết này rất phù hợp với não trạng chiêm tinh vốn tích lũy từ lâu trong đời sống Trung Hoa cổ đại. Ý niệm của sự trống không của không gian giữa các vì tinh tú gần như là mặc nhiên vì nhìn lên bầu trời ngoài tinh tú chẳng thấy gì khác hơn ngoài mây, xa hơn mây quả là trống rỗng trước con mắt con người. Chính ý niệm này đã sản sinh ra khái niệm “thái hư’ sẽ nói ở dưới.

Trong chừng mực nào đó chúng ta ý niệm Thượng Đế có từ thời nhà Chu, coi vua nhà Chu là đấng con trời được cử xuống điều độ việc trần gian theo thiên mệnh. Hai thuyết Cái Nhiên và Tuyên Dạ đã mặc định có một quyền lực siêu nhiên điều hành trời đất. Quyền lực đó không gì khác hơn là ý trời. Những ý tưởng man mác như thế tuy chưa hình thành một hệ thống lý luận cụ thể, nhưng được thừa nhận như một điều hiển nhiên. Mãi đến đời Khổng Tử mới san định hình thành lý luận chặt chẽ hơn.

Thuyết đó nảy sinh những xung đột chính trị, chiến tranh triền miên vì ai cũng có thể xưng là thiên tử. Xuân Thu và Chiến Quốc thể hiện biết bao cuộc tương tàn và hình thành phái Tung Hoành gia, tất cả đều vin vào mệnh trời. Dĩ nhiên cũng có những bậc trí giả nhìn ra sự hỗn loạn là do vũ trụ luận có “Thượng Đế” như thế. Trước Lão Tử đã có những triết nhân phản bác ông trời “hữu hình” nhưng không trông thấy đó. Nhưng đến Lão Tử một dòng lý luận siêu tuyệt đề ra để phản bác: Đạo Đức Kinh.

2.- Vũ trụ luận Lão Tử (Laotse cosmology)
Lão Tử chẳng bàn về thiên văn, nhưng luận chứng chính trị của Ngài nói đến thiên văn để phản biện cho trường phái “thế thiên hành đạo” của Khổng Gia.

Khổng Gia lấy trời làm đấng Tối Cao, vua là người thay trời hành đạo. Nhưng câu hỏi “Trời thế nào?” thì từ Thương Hạ đến nhà Chu không trả lời được. Khổng Tử nói nhiều về Thượng Đế, nhưng Ngài chưa từng mô tả Thượng Đế như thế nào. Thậm chí khi môn đệ hỏi về “trời đất” (Hình nhi thượng), Ngài mắng ngay Sự sống chưa biết thì hỏi gì đến sự chết?

Còn một vấn nạn khác: Đức Khổng tử học rộng biết nhiều, Ngài từng san định Lục Kinh (một kinh bị thất lạc nên chỉ còn Ngũ Kinh) trong đó có cả thuật bói toán là Kinh Dịch mà không hề có trước tác nào về thiên văn. Ngài cũng chẳng giảng dạy gì về thiên văn cho môn sinh. Điều này khá lạ vì theo quan niệm Nho gia đời sau phải “thông thiên văn đạt địa lý”. Mảng sao duy nhất được Khổng Tử nói đến là chòm Bắc Thần, nhưng cũng nói đến với dòng tư duy “Thiên mệnh”. 

Trong thiên Vi Chính 2, sách Luận Ngữ, Ngài viết: Dùng Đạo đức để cầm quyền, giống như sao Bắc Thần có nơi của nó để cho các ngôi sao vây quanh (Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi). Phải đâu Khổng Phu Tử không quan tâm đến thiên văn, chẳng qua những gì Ngài cần thừa hưởng chưa hiện hữu.

Lại nữa, các sách chuyên về cúng tế như Chu Lễ, Kinh Lễ không hề nói đến tên một ngôi sao nào về Tam viên và Nhị Thập Bát Tú như những sách cúng tế của đời sau. Từ những vấn nạn này chúng ta có thể đặt nghi vấn về các sách vở đời sau của Trung Hoa nói niên đại thiên văn có từ thời Hiên Viên Hoàng Đế là hư cấu. Huyền thoại nói về Thạch Thân nào đó thời Chiến Quốc lập ra một danh tập 122 chòm sao cũng là điều thêm thắt trong Hậu Hán Thư mà chúng ta chẳng nên cả tin vào. 

Đồng thời có thể tồn nghi trước Khổng và Lão chỉ có những ý niệm về những hiện tượng tự nhiên trên bầu trời mang tính chiêm thuật như nhật thực, sao băng, … chưa thể có một hệ thống vũ trụ luận tương đối hoàn chỉnh nào cũng chưa có phân định tinh tú rõ nét ngoài mảng sao Bắc Thần vốn lồ lộ thường xuyên trên bầu trời đêm phương Bắc. Nó đến với tâm trí người phương Bắc bời một nhu cầu thực tiễn: ngôi sao dẫn đường cho những chuyến du hành trong xã hội du mục chăn thả. 

Nhu cầu cầu của xã hội sơ khai thời du mục cũng giống như nhu cầu những nhà hàng hải: chỉ cần những ngôi sao định hướng; trái lại nhu cầu xã hội nông nghiệp phong phú hơn nhiều: đòi hiểu thiên văn gắn bó với thời tiết nên thường chọn những tinh tú có mọc và lặn theo mốc thời tiết nào đó. 

Dưới nhãn quan này mới có thể hiểu vì sao dân tộc quen sống trên yên ngựa Hoa Bắc chọn ngôi sao luôn luôn cố định trên bầu trời (Bắc Đẩu) làm sao chuẩn, còn dân tộc sống bằng nông nghiệp như Ai Cập cổ đại chọn sao Thiên Lang (Sirius) mỗi năm lặn mất 70 ngày rồi xuất hiện trở lại cùng lúc với mùa lũ sông Nil; …

Từ Thương Hạ đến nhà Chu với hai thời kỳ đại loạn Xuân Thu và Chiến Quốc, xã hội vùng Hoa Bắc chỉ là du mục và chinh phạt, chỉ đến khi sự chinh phạt hoàn tất và hội nhập cùng xã hội nông nghiệp nền thiên văn mới có chuyển biến nhu cầu. Do vậy, các tác phẩm đương thời Khổng-Lão và sau đó ít lâu cũng nhìn bầu trời với những ý tưởng triết học nhiều hơn là thiên văn, đại biểu xuất sắc cho dòng tư duy này là Trang Tử. 

Thế nhưng bắt đầu từ Hậu Hán trở đi các Thánh vương như Hoàng Đế, Nghiêu-Thuấn, … được gán cho làm các nhà thiên văn hay lãnh đạo ngành thiên văn với các tên sao đi kèm trong các tác phẩm từ biên niên sử đến triết học. Có lẽ chúng ta còn nên lưu ý một tính cách khác của người Trung Hoa: thác danh cho những nhân vật lớn thời xa xưa điều mình muốn nói. Cũng khó lòng đổ thừa Tần Thủy Hoàng đã đốt hết vì theo sử Trung Hoa vị bạo chúa này không đụng đến Kinh Dịch và các sách bói toán. Tần Thủy Hoàng chỉ chuyên chú vào sách bàn về chính sách cai trị.

Không hình dung được “Ông Trời” cũng không có ý niệm về vũ trụ như những gì chúng ta thấy qua học thuật của Đức Khổng Tử, nhưng lại có thuyết Thiên mệnh làm nền móng cho sự cai trị. Rõ ràng điều này không thể thỏa mãn các bậc trí giả đương thời. Một trong những trí giả tự giải đáp để phản bác Nho gia là Lão Tử.

Lão Tử có một vũ trụ luận như thế nào? Thật sự có lẽ Lão Tử (nhân vật sống ở xã hội nông nghiệp vùng Động Đình Hồ) không chuyên tâm vào bầu trời, mà cốt yếu Ngài trả lời thế nào là “Trời” và thuận theo “Trời” là thế nào? Ngài viết trong Đạo Đức Kinh: thuở ban đầu Vũ trụ không hình không bóng, nó “bản thể thì hư không mà tác dụng thì cơ hồ vô cùng, nó uyên áo mà tựa như làm chủ tể vạn vật”. Vũ trụ tạm gán tên lả “đạo” đó là “một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng (vô thanh) trống không (vô hình), đứng một mình mà không thay đổi (vĩnh viễn bất biến), vn hành khắp vũ trụ mà không ngừng, có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ.” (Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề, liêu hề, độc lập bất cải. 

Chu hành nhi bất đãi. Khả dĩ vi thiên hạ mẫu – ĐĐK 25). Từ chỗ hỗn độn đó “cái nhất” sinh ra và từ nó nhân ra vạn vật mà Ngài nói Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh vạn vật. Vạn vật đều cõng âm mà ôm dương, điều hòa bằng khí trùng hư.(Đạo sinh Nhất; Nhất sinh Nhị; Nhị sinh Tam; Tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hợp – ĐĐK 42). Cứ thế mà bành trướng sinh sôi tạo ra Mặt trời, Mặt trăng, tinh tú và cả muôn vật trên Trái đất. Nói khác đi, vũ trụ khai sinh từ một “thể” chẳng ai biết rõ là gì, rồi có một biến cố mà đời sau phụ họa thêm là “âm dương tương sát, hợp nhi thành hình” (âm và dương cọ sát vào nhau để tạo thành vật chất) mới có vật chất ban đầu; vật chất đó nhân bội lên thành trời đất và muôn vật.



Như vậy, một Thượng Đế “thực thể” không tồn tại, chỉ có một Thượng Đế “vô hình” đầy sức mạnh là quy luật vũ trụ; nó sinh ra muôn vật và điều hành muôn vật theo quy luật vốn có của nó. Thuận theo “đạo” (Thượng đế vô hình) thì sống, nghịch lại thì chết. Tự mang cái do mình áp đặt ra cho xã hội sẽ chẳng tồn tại lâu dài, nương theo “đạo” thì vình cửu. Nó trả lời một vấn nạn mà Nho Gia không giải quyết được “Ông Trời (thực thể) từ đâu sinh ra?” bằng quan điểm “Đạo tự hữu”. 

Rõ ràng lối giải thích vũ trụ luận của Lão Tử hàm chứa tư tưởng chính trị một cách hồn hậu, nhưng vấn đề Ngài nêu ra cùng cách diễn đạt ngôn từ “mập mờ thấp thoáng” cũng hết sức huyền thoại. Đây là đặc thù dân tộc tính rất Trung Hoa mà chúng ta có thể bắt gặp trong mọi lãnh vực, từ xa xưa cho đến ngày nay cũng vậy. Đặc thù này dễ gây mê hoặc và lẫn lộn cho đời sau khi nghiên cứu.

Thế là vũ trụ luận của Lão tử phản bác hoàn toàn một Thượng Đế “thực thể” của Nho Gia, thay vào đó là một trạng thái tự nhiên của vạn vật “từ không đến có và từ có trở về không, cứ thế xoay vần”. Vô hình chung Lão Tử đã vạch ra một thuyết “Thiên Mệnh” riêng cho mình: hành xử theo tự nhiên là thiên mệnh, càng ít đề ra luật lệ cai trị là tuân theo thiên mệnh. Ngài triết học hóa vũ trụ nhưng để lại cho hậu thế một vũ trụ luận để sau này mở rộng ra với thuyết “lý khí” và nhiều lý luận về khai sinh vũ trụ khác. Một trong những khai sinh vũ trụ đó là việc chia bầu trời theo cơ cấu triều đình, như là một sự hoàn thiện triết lý để phản bác lại của Nho Gia. 

Cơ cấu này sẽ trình bày ở bài 3: “Bầu Trời Triều Chính” với nhiều tên sao mang chức vụ như vua quan, cùng với sự phân chia như cấu trúc triều chính. Lạ lùng, tuy hình thành ra một “Tam Viên” có cơ cấu như là một thiên triều với các chư hầu và văn võ bá quan, nhưng Nho giáo không phủ nhận vũ trụ luận “gư vô” của Lão Tử mà còn tiếp nhận có và phát triển lên thành các học thuyết Tống Nho (phương Tây gọi là Tân nho Giáo – neoconfucisme). “” và “khí” trở thành nền tảng không chỉ về vũ trụ luận mà còn cho mọi sự việc trên cõi đời. 

Điều này cũng nói lên một lập luận: những khái niệm như “Tam Viên”, “Nhị Thập Bát Tú”, … khó có thể có trước thời Khổng Lão như nhiều tài liệu đề cập. Thực tế cũng cho thấy những sách được cho là vào thời Tiên Tần, như Nam Hoa Kinh của Trang Tử chẳng hạn[1], hoàn toàn vắng bóng những từ ngữ  “Tam Viên”, “Nhị Thập Bát Tú”, “Thiên Can địa chi”, … cùng những thành phần trong các cấu trúc này. Mà nhân vật Trang Tử lại biểu hiện con mắt thích nhìn lên bầu trời, văn của ông lồng lộng những ý tưởng bay bổng của chuyện đi mây về gió. Nhưng trong Nam Hoa Kinh chỉ nói đến những ngôi sao thần thoại khó đối chiếu với tên sao trong thiên văn học cổ Trung Hoa (chưa nói là thêm vào về sau).

Đáng ngạc nhiên, vũ trụ luận mang màu sắc chính trị đó lại tương đồng với thuyết Big Bang thời hiện đại. Thời điểm khai sinh vũ trụ của các nhà khoa học đề ra thuyết này cũng chẳng biết gọi tên nó là gì, giống như chữ ‘đạo’ của Lão tử (Ta không biết nó tên là gì, tạm đặt tên nó là Đạo: Ngô bất tri kì danh. Tự chi viết Đạo). Trong cuộc hội thảo với chủ đề “Bản Chất Của Vũ Trụ” (Nature of the Universe) do đài phát thanh BBC tổ chức năm 1950, Fred Hoyle (người phát triển và bảo vệ thuyết Trạng Thái Tĩnh – stationary state –  mâu thuẩn với thuyết này) đã chế giễu dùng hai chữ “Big Bang” để phản bác. Nào ngờ nó trở thành tên của học thuyết vũ trụ luận về “vụ nổ lớn”.

Thuyết cho rằng Vũ trụ khai sinh từ một sự kiện “tức thời” xảy ra cách nay 14 tỷ năm. Vật chất được tạo ra trong sự kiện ban đầu rồi theo thời gian bành trướng rộng ra và tiến hóa thành các thiên hà, các tinh tú như ngày nay (Quá trùng hợp với những gì Lão Tử đã nói). 

Từ sau vụ nổ Big Bang, các nhà vũ trụ luận chia thành nhiều kỷ nguyên cho Vũ trụ. 10-43 giây đầu tiên từ khi Vũ trụ ra đời từ vụ nổ Big Bang là kỷ nguyên Plank; khi đó vủ trụ chỉ to cở 10-33 cm (gọi là chiều dài Plank) và các hiệu ứng lượng tử của trọng lực không có ý nghĩa. 

Tiếp theo sau là kỷ nguyên Hadron xảy ra sau vụ nổ Big Bang 10-5 giây, lúc đó nhiệt độ vũ trụ sơ khai còn bé nhỏ đó lên đến khoảng 1015 độ kelvins (K). Rồi đến kỷ nguyên hạt nhẹ lepton sau bị nổ Big Bang 10-4 giây: nhiệt độ hạ xuống còn 1012 độ kelvins (K) rồi chỉ còn 1010 độ kelvins (K) trong thời gian kéo dài 1 giây của kỷ nguyên này. 400.000 năm sau vụ nổ Big Bang là kỷ nguyên chia tách: nhiệt độ nguội lại đến điểm (4.000 K) mà tại đó các electrons với nhân nguyên tử tái hợp và hình thành các nguyên tử hydrogen trung hòa, khi đó bức xạ vật chất đen (blackbody radiation) trong Vũ trụ cuối cùng bị khuếch tán bởi vật chất, … và nhiều kỷ nguyên khác tiếp nối.

Hai trạng thái nhiệt độ cao không vật chất và nhiệt độ hạ xuống để vật chất sinh ra rất tương đồng với thuyết lý khí của Tống Nho. Vào lúc chưa có vật chất gì gọi là “vô cực” và vật chất mới sinh buổi ban đầu còn chưa phân cực gọi là “thái cực”, cả hai trạng thái ban đầu đó còn hỗn mang nên gọi là “thái hư”. Sau đó vạn vật sinh sôi như thuyết Big Bang ngày nay đang đề xuất. Vũ trụ luận như thế khá hoàn chỉnh đời Tống với bài “Thái Hư Lý Khí Thiên Địa Âm Dương Ca” trong cuốn Y Tông Kim Giám:

無 極 太 虛 氣 中 理
Vô cực Thái hư, khí trung lý;
(Thuở hỗn mang chưa có gì thì khí ở trong lý)
太 極 太 虛 理 中 氣
Thái cực Thái hư, lý trung khí.
(Đến lúc hỗn mang có một cực vật chất thì lý ở trong khí)
丞 氣 動 靜 生 陰 陽
Thừa khí động tĩnh sinh Âm Dương;
(nhân sự động tĩnh của khí mà Âm Dương sinh ra)
陰 陽 之 分 爲 天 地
Âm Dương chi phân vi thiên địa.
(Âm và Dương chia tách thành trời đất)
未 有 天 地 氣 生 形
Vị hữu thiên địa khí sinh hình;
(do có trời đất nên khí tạo ra vạn vật: hình)
已 有 天 地 形 寓 氣
Dĩ hữu thiên địa hình ngụ khí.
(trời đất đã có rồi nên vạn vật có khí bên trong)
從 形 究 氣 曰 陰 陽
Tùng hình cứu khí viết Âm Dương;
(Dựa vào vạn vật để nghiên cứu về khí sẽ hiểu Âm Dương)
卽 氣 觀 理 曰 太 極
Tức khí quan lý viết Thái cực.
(tìm đến khí để xem xét lý sẽ hiểu Thái cực)

Lý có thể hiểu như quy luật vận hành, khí có thể hiểu như năng lượng vận động. Cả hai tương tác nhau từ lúc Vũ trụ mới hình thành và tiếp tục cùng sự hiện hữu của vạn vật. Khái niệm năng lượng hạch nhân và sự hình thành nguyên tử dùng giải thích vũ trụ luận Big Bang trong chừng mực nào đó có thể hiểu theo “lý” và “khí” ở trên. Một vài dân tộc thời cổ đại cũng nói đến sự hình thành Vũ trụ từ hư vô, nhưng không dân tộc nào có một lý luận cao thâm như thế. Quả trí tưởng tượng của người Trung Hoa trong lãnh vực này đáng khâm phục. Họ đã hình dung một vấn đề để giải quyết vấn đề ý thức hệ rồi lại quay ngược lại để đào sâu thành một khái niệm vũ trụ luận đi trước thời đại.

Thuyết Big Bang khai sinh Vũ trụ còn đặt ra vấn đề: Vũ trụ tồn tại mãi hay có lúc chết đi? Nếu chết thì chết như thế nào. Có hai trường phái trái ngược nhau: 1.- Vũ trụ dao động và khép kín kết thúc bằng một sự suy sập lớn (big crunch) do tỷ trọng của Vũ trụ ngày càng gia tăng bởi sự hình thành vật chất, đến mức tỷ trọng tới hạn sẽ suy sập như hiện tượng thường thấy ở các ngôi sao; 2.- Thuyết Vũ trụ mở, Vũ trụ cứ bành trướng theo không gian vô tận để cân bằng tỷ trọng vật chất đang sinh ra (và nhiều chứng cứ cho thấy vũ trụ đang bành trướng).

Thuở đầu nối tiếp thuyết Big Bang các thuyết vũ trụ luận phương Tây thường thấy đi theo hai hướng: Vũ trụ sẽ chết đi hẳn hay Vũ trụ sẽ sống mãi. Riêng Lão Tử thì cho rằng Vũ trụ (tức trời đất) thì sống mãi (Thiên trường địa cửu), nó đi ra xa (chết dần) rồi quay trở lại (tái sinh), quay trở lại rồi đi ra xa. Cứ như thế như một vòng tròn vô tận mà các Đạo gia gọi là “chu nhi phục thỉ như hoàn vô đoan” (tạm diễn ý: đi vòng vòng vòng mãi như đi trên vòng tròn không có đầu mối khởi đầu). Khoa học hiện đại cũng đã đi đến khái niệm dung hòa như Lão Tử: các mô hình vũ trụ luận có chu kỳ (cyclic models).

Như mô hình Steinhardt – Turok: Có hai mặt phẳng quỹ đạo nhiều tầng (orbifold planes = orbit-manifold planes) tồn tại song song nhau (trong một không gian rộng lớn hơn chúng ta biết) mà chúng ta chỉ có khả năng nhìn thấy một.  Hai mặt phẳng đó va chạm nhau có chu kỳ: khi va chạm thì vũ trụ từ trạng thái co rút chuyển qua bành trướng để rồi suy sập lớn; sau khi suy sập lớn sẽ chuyển từ bành trướng qua trạng thái co rút lại. Rồi một sự va chạm mới theo chu kỳ khiến vũ trụ bành trướng trở lại. Nghĩa là Vũ trụ có chết đi và sống lại theo một chu kỳ xoay vòng. Hiện nay chúng ta đang chứng kiến giai đoạn bành trướng từ một vụ va chạm cách nay nhiều tỷ năm.

Mô hình thứ hai có tên Baum – Frampton, mới đề xuất năm 2007. Thuyết này dựa vào một giả định kỹ thuật khác có liên quan đến phương trình trạng thái (equation of state) của năng lượng tối (dark energy), trong đó áp suất và tỷ trọng có liên quan đến tham số w.  Nếu phương trình này giả định tham số w < −1 (điều kiện được gọi là năng lượng ma – phantom energy) trong suốt chu kỳ,  thì mô hình Steinhardt – Turok giả định w chẳng bao giờ nhỏ hơn −1. 

Mô hình Steinhardt–Turok cho rằng vào thời điểm trước khi Vũ trụ rơi vào số phận Big Rip[2] 1 phần triệu lũy thừa bảy giây (hay nhỏ hơn), một sự thay đổi theo hướng ngược lại xảy ra để quay trở lại trạng thái ban đầu của Vũ trụ của chúng ta ngày nay bằng một đốm nhỏ. Đốm nhỏ đó không có hạt quark, lepton hay hạt mang lực, chỉ có năng lượng tối; và do vậy nó hư rỗng (vô cực hay thái hư?).


3.- Vũ trụ luận Trương Hành (Zhang-Heng cosmology)
Vũ trụ luận luận của ông cũng chỉ được thuật lại trong Hậu Hán Thư (thế kỷ thứ 5). Sách này thuật rằng Trương Hành (张衡: 78-139 sau Công nguyên) có viết cuốn “Linh Hiến” (灵宪), mô tả vũ trụ: Bầu trời tròn như quả trứng gà, Trái đất như lòng đỏ lơ lững trong đó. Trời thì rộng, Trái đất thì nhỏ”, “Mặt trời, Mặt trăng và các tinh tú nằm trong một quả cầu, di chuyển với vận tốc khác nhau, “Mặt trăng không phát sáng mà chiếu lại ánh sáng của Mặt trời”, “nhật thực là do Mặt trăng di chuyển nhanh hơn trong quả cầu vũ trụ.” 

Những quan niệm hết sức tiến bộ, nhưng nối tiếp theo sau ông nền thiên văn học Trung Hoa một thời gian dài vẫn cho rằng “trời tròn đất vuông”, đến đời Minh Thanh vẫn còn tục cúng tế khi nhật thực, … Lý do vì sao? Chúng ta thấy ngoài mô tả đó Hậu Hán Thư không hề nêu lập luận của Trương Hành vì sao có quan niệm như vậy. Có thể đây là thói quen viết sách của người Trung Hoa, cũng có thể Trương Hành thuật lại điều “thinh kỳ văn” (có nghe nói đến). Có lẽ vì thiếu những lý luận xác đáng, hoặc vì không phù hợp “khẩu vị” của Nho gia mà những điều ông nói không được quan tâm?


Người ta còn nói ông sáng chế ra Hỗn Thiên Nghi bằng tre và vận hành bằng nước. Nhìn vào nó thì dầu ở trong phòng kín cũng biết được sự chuyển vận trong vũ trụ tương tự mô hình trên máy tính thời hiện đại, nhưng chẳng ai mô phỏng lại Hỗn Thiên Nghi diệu kỳ đó. Nhưng các sách Trung Hoa khi viết về điều này thường kèm theo hình chiếc hỗn tượng hay hỗn thiên nghi chế tác vào thế kỷ 15, dễ gây ngộ nhận cho người đọc đó là điều thuyết phục. Thực hư quả là điều cần nghiên cứu cho tường tận.

Nhưng rõ ràng thuyết của Trương Hành giống thuyết “Địa tâm” (geocentrism) gắn liền với tên tuổi Ptolemy (90-168), có điều diễn đạt giản dị và trực quan hơn. Nhưng Ptolemy chỉ là người phát triển và phổ biến rộng, thuyết địa tâm thực ra có từ thời Plato (?427-?347 trước Công Nguyên) và học trò của mình là Aristotle (384-322 trước Công Nguyên). 

 Sự phát triển chậm chạp của thuyết địa tâm có nguyên do của nó: nó trái ngược với các thuyết trong thần thoại Hy Lạp nói Trái đất là phẳng dẹt. Theo Plato, Trái Đất hình cầu, và nằm ở trung tâm vũ trụ, bao quanh là các tinh tú tính từ Trái đất lần ra xa có Mặt trăng, Mặt trời, Sao Kim, Sao Thủy, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, và các ngôi sao khác. Ptolemy phát triển thêm các “ngoại luân” để các tinh tú như sao Mộc, sao kim, … quay trên cái vòng đó; ngày nay có thể hiểu là quỹ đạo. 

Các tầng trời như thế cũng thấy trong thuyết của Trương Hành, ông cho rằng: các vì sao được “cương phong” (gió cứng) nâng lên ngự ở từng tầng trời riêng. Rõ ràng, thuyết Trương Hành vẫn còn man mác tương đồng với thuyết Plato, chưa phát triển thành quan niệm “ngoại luân” như Ptolemy (sinh sau ông vài chục năm). Điều này đặt thành nghi vấn: có chăng một sự truyền bá từ Hy Lạp qua Trung Hoa?





Chúng ta lưu ý vào thời này có một sự kiện vĩ đại khác của nhân loại: Con Đường Tơ Lụa, có từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên.

Ở đây xin mở ngoặc nói ra xa một chút, coi như là cơ sở để trình bày điều tiếp theo. Nhiều tài liệu Trung hoa cho chúng ta ảo giác con đường này do người Trung Hoa tìm ra với nhân vật Trương Khiên (張騫 200-114 trước Công nguyên). Thực ra năm 126 trước Công nguyên Trương Khiên chỉ đi đến xứ Nguyệt Chi theo lệnh của Hán Vũ Đế (như bản đồ vạch ra) rồi về, chỉ là một nhánh nhỏ trên Con Đường Tơ Lụa. Kết quả của chuyến đi này là năm 121 trước Công Nguyên Hán Vũ Đế chiếm xứ Nguyệt Chi (địa danh Đôn Hoàng nổi tiếng nằm ở cửa ngỏ lãnh thổ này). 

Còn Con Đường Tơ Lụa phía bắc nằm trong vòng quản lý của các bộ tộc Hung Nô, Nữ Chân, Thát Đát, … luôn là mối đe dọa đối với vương triều nhà Hán. Nói khác đi không phải người Trung Hoa mà chính các dân tộc du mục Tây Á hình thành nên Con Đường Tơ Lụa từ trước khi người Trung Hoa đặt chân lên đấy rất lâu. Sự hình thành con đường là một tất yếu mang tính lịch sử và xã hội. Dân tộc Á Rập và các dân tộc du mục khác vốn sinh trưởng vùng đất khô cằn và nghèo tài nguyên, cuộc sống của họ chỉ được cải thiện bằng những chuyến đi chinh phục cướp bóc hay những chuyến đi buôn rong ruỗi trên lưng lạc đà. Hình ảnh những đoàn lữ hành trên lưng lạc đà (caravan) là hình ảnh ăn sâu vào tâm khảm nhân loại từ rất lâu, chứ không phải là đoàn thương buôn người ngựa của dân Trung Hoa.

Từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên các vua Ba Tư đã gọi nó là Con Đường Hoàng Gia (Royal Road) đi từ thành phố Susa (cách thành phố Tigris của Iraq hiện nay khoảng 250 km về phía Đông) đến cảng Smyrna (ngày nay là thành phố İzmir của Thổ Nhĩ Kỳ). Con đường này cung cấp kỳ trân dị bảo cho các vua chúa và cũng là con đường truyền bá văn hóa, tiếp thu cũng như tạo dựng những nền văn minh như Lưỡng Hà, Babylon trong khi Trung Hoa vào thời đó còn chìm trong Xuân Thu và Chiến Quốc. 

Người Trung Hoa chỉ bắt đầu quan tâm con đường này từ khi thống nhất được đất nước (khoảng thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên) và chủ yếu là đến Đôn Hoàng rồi đi tiếp theo đường biển, đồng thời người Ấn Độ vạch thêm con đường biển đi ngang qua Chiêm thành và Giao Chỉ để đến bờ phía đông của Trung Hoa. Con đường bộ phía Bắc tiếp tục là trở ngại một thời gian dài sau đó. 

Chúng ta có thể thấy suốt lịch sử mấy ngàn năm của Con Đường nhân lực chủ yếu cho nó là các chủng tộc Á Rập, Tây Á và Ấn Độ. Có thể khẳng định như vậy vì các văn hóa mang dấu ấn của những dân tộc này có truyền đến Trung Hoa, trong khi không hề thấy sắc thái Trung Hoa rõ nét ở phía Tây. Chúng ta có thể tìm thấy văn hóa Hồi giáo ngay tại Bắc Kinh, nhưng khó tìm tư tưởng Khổng Lão ở các xứ sở phía Tây Trung Hoa.



Một hướng khác là từ vũ trụ luận Vệ Đà của Ấn Độ: hướng này khá thuyết phục. Kinh Vệ-đà có trước Công nguyên mấy ngàn năm, trong đó có nói: “trời đất như quả trứng gà, nửa trên là bầu trời nửa dưới là mặt đất, ở giữa là khoảng không. Trước khi có quả trứng trời đất đó, vũ trụ là khối hỗn độn; sau đó nước và lửa sinh ra, tương tác với nhau sinh ra vạn vật”. Chúng ta cũng nên nhớ sau lần kết tập thứ 3 (khoảng 325 năm trước Công nguyên) Phật giáo phồn thịnh dưới quyền cai trị của vị hộ pháp vương A Dục. 

Nhưng cũng thời kỳ này nhiều môn học của tôn giáo khác như phù thuật, thiên văn chiêm tinh, toán học, … được đưa vào giảng dạy ở đại học Phật giáo đầu tiên Na-lan-đà (Nalamda). Nơi đây đào tạo ra nhiều đoàn truyền pháp tỏa đi khắp nơi, mang theo cả những kiến thức thiên văn và toán học. Trong đó có một con đường đi qua xứ Nguyệt Chi với cửa ngỏ Đôn Hoàng vào Trung Hoa.

Nhưng dù bằng con đường gì, nói cho cùng có một tồn nghi nhiều dòng thiên văn học đã theo con đường tơ lụa du nhập vào Trung Hoa. Trong đó có dòng vũ trụ luận “quả trứng gà” của Trương Hành. Nó được nêu ra nhưng không được lan truyền rộng: sau đời ông người Trung Hoa không hề nói đến “vũ trụ như quả trứng gà” nữa. Có lẽ vì những tư duy triết học Khổng Mặc về Âm dương, Tứ tượng, Ngũ hành thời Xuân Thu Chiến Quốc đã phát triển ăn sâu trong tâm thức người Trung Hoa: thuyết của Trương Hành chẳng thể giải thích bằng các dòng tư duy đó. 

Nó khá xa lạ với não trạng Trung Hoa và chính yếu tố này cũng là một trong những cơ sở để tồn nghi thuyết Hỗn Thiên của Trương Hành được du nhập vào Trung Hoa bằng Con Đường Tơ Lụa. Nhất là từ đời Tống hai thuyết “Cái Nhiên” và “Tuyên Dạ” được truyền bá rộng, người Trung Hoa quên hẳn thuyết Trương Hành do không hợp “khẩu vị” Âm Dương – Ngũ Hành và nhu cầu tâm linh. Ảnh hưởng này lan truyền và dễ dàng tìm thấy ở Việt Nam, chứng tỏ thuyết Cái Nhiên và Tuyên Dạ rất được ưa chuộng.

Mãi đến thế kỷ 20 có học giả tìm thấy trong Hậu Hán Thư mới đem thuyết và tên tuổi Trương Hành ra quảng bá. Đây là đề tài cần nghiên cứu sâu hơn.

[1] Lưu ý trong tác phẩm Nam Hoa kinh (dù đời sau có viết xen vào khá nhiều) rất hay nói về những chuyện trên trời, ngao du trời đất. Do vậy, nếu “Tam Viên” và “Nhị Thập Bát Tú” có ở thời ông thì không dễ gì ngọn bút tài hoa của Trang tử bỏ qua những vì sao hết sức quan trọng trong thiên văn học cổ Trung Hoa. Bài 3 sẽ có những chứng minh Nhị Thập Bát Tú là phần du nhập từ Ấn độ.

[2] Giả thuyết vũ trụ luận về số phận cuối cùng của vũ trụ. Theo giả thuyết này, vào một tương lai xa xôi các thiên hà và các hệ sao sẽ bị xé toạc ra bởi sự bành trướng tăng nhanh của vũ trụ. Sự bành trướng này tùy thuộc vào năng lượng tối có trong vũ trụ. Theo giả thuyết này, sau khi bị xé ra, các thiên hà, các sao, các hành tinh – thậm chí các nguyên tử – không còn khả năng giữ vững lực bên trong để chống đỡ sự bành trướng do năng lượng tối áp đặt lên. Rip là từ tiếng Anh có nghĩa “xé toạc”. 

Huyền thoại và sự thật về thiên văn học Trung Hoa - Phần 1

Post a Comment

 
Copyright © 2017 Tử Vi Lý Số
DMCA.com Protection Status
Shared by Bí Kiếp. Powered by Khoa Học Tử Vi